Báo cáo chuyên đề Tập đọc lớp 4. Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (339.21 KB, 13 trang ) BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ MÔN TẬP. BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ MÔN TẬP. ĐỌC LỚP 4. ĐỌC LỚP 4. Phòng GD Núi Thành. TH Phạm Văn Đồng.
Chuyên đề tập đọc lớp 2. cụ thể phân môn Tập đọc 2: I.Mục đích yêu cầu phân môn Tập đọc 2: 1.Phát triển kĩ đọc, nghe nói cho học sinh ,cụ thể là: a, Đọc thành tiếng: -Phát âm -Ngắt nghỉ hợp lí -Tốc độ đọc vừa phải ( không f3 Hướng dẫn đọc học
chuyên đề môn tập đọc lớp 2. tập đọc lớp 2 bài câu chuyện bó đũa. tập đọc lớp 2 câu chuyện bó đũa. tap doc lop 2 chuyen bon mua. hệ việt nam nhật bản và sức hấp dẫn của tiếng nhật tại việt nam. xác định các mục tiêu của chương trình. xác định thời lượng học
Với 60 chủ đề thuộc 7 chuyên đề, chương trình học của Monkey Math xây dựng bám sát Chương trình Giáo Dục Phổ Thông Mới cho trẻ Mầm non và Tiểu học. Cụ thể hơn, 7 chuyên đề (6 chuyên đề cơ bản, 1 chuyên đề nâng cao) trong ứng dụng học tập Monkey Math bao gồm:
2. Chỉ định; 3. Chống chỉ định; 4. Cách dùng – liều lượng; 5. Bảo quản thuốc Eldoper; Một số lưu ý khi sử dụng thuốc Eldoper; 1. Khuyến cáo; 2. Tác dụng phụ; 3. Tương tác thuốc Eldoper; 4. Xử lý khi dùng thiếu hay quá liều; Nội dung khác
PHÒNG GD- ĐT NÚI THÀNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG TH ĐINH BỘ LĨNH ĐỘC LẬP- TỰ DO- HẠNH PHÚC * * * * * * * CHUYÊN ĐỀ : LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 2 GV: NGÔ THỊ HỒNG THU * GIỚI THIỆU VỀ MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 2: A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU: Mở rộng vốn từ và cung cấp cho HS một số hiểu biết sơ giản
7ENlqbP. Ngày đăng 25/10/2014, 0500 BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ MÔN TẬP BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ MÔN TẬP ĐỌC LỚP 4 ĐỌC LỚP 4 Phòng GD Núi Thành TH Phạm Văn Đồng Người thực hiện Hoàng Thị Thu Thủy I/MỤC ĐÍCH YÊU CẦU I/MỤC ĐÍCH YÊU CẦU 1/Củng cố phát triển kỹ năng đọc trơn , đọc 1/Củng cố phát triển kỹ năng đọc trơn , đọc thầm đã được hình thành ở các lớp 1,2,3… thầm đã được hình thành ở các lớp 1,2,3… tăng cường tốc độ đọc, biết đọc lướt để tăng cường tốc độ đọc, biết đọc lướt để chọn thông tin nhanh , bước đầu biết đọc chọn thông tin nhanh , bước đầu biết đọc diễn cảm . diễn cảm . 2/Phát triển kỹ năng đọc hiểu ở mức cao hơn 2/Phát triển kỹ năng đọc hiểu ở mức cao hơn , nắm và vận dụng được một số khái niệm , nắm và vận dụng được một số khái niệm như đề tài, cốt truyện , nhân vật , tính cách như đề tài, cốt truyện , nhân vật , tính cách … Để hiểu ý nghĩa cuả bài và phát hiện … Để hiểu ý nghĩa cuả bài và phát hiện một vài giá trị nghệ thuật trong các bài văn một vài giá trị nghệ thuật trong các bài văn , bài thơ . , bài thơ . 3/Mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên , xã hội 3/Mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên , xã hội và con người để góp phần hình thành nhân và con người để góp phần hình thành nhân cách của con người mới. cách của con người mới. II/NỘI DUNG DẠY HỌC II/NỘI DUNG DẠY HỌC - Thông qua 62 bài tập đọc thuộc các loại - Thông qua 62 bài tập đọc thuộc các loại hình văn bản nghệ thuật , báo chí, khoa hình văn bản nghệ thuật , báo chí, khoa học . Trong đó có 45 bài văn xuôi , 1 vở học . Trong đó có 45 bài văn xuôi , 1 vở kịch , 17 bài thơ có 2 bài thơ ngắn được kịch , 17 bài thơ có 2 bài thơ ngắn được dạy trong 1 tiết . dạy trong 1 tiết . - Môn tập đọc không những chỉ hướng dẫn - Môn tập đọc không những chỉ hướng dẫn các em giải nghĩa từ ,TLCH mà còn giúp các em giải nghĩa từ ,TLCH mà còn giúp học sinh kỹ năng đọc hiểu văn bản cụ thể học sinh kỹ năng đọc hiểu văn bản cụ thể là là - Nhận biết đề tài , cấu trúc của bài . - Nhận biết đề tài , cấu trúc của bài . - Biết cách tóm tắt bài, làm quen với thao tác - Biết cách tóm tắt bài, làm quen với thao tác đọc lướt để tìm ý . đọc lướt để tìm ý . - Phát hiện giá trị của một số biện pháp nghệ - Phát hiện giá trị của một số biện pháp nghệ thuật trong văn chương. thuật trong văn chương. - Mở rộng vốn hiểu biết , bồi dưỡng tư - Mở rộng vốn hiểu biết , bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm , nhân cách cho học sinh. tưởng, tình cảm , nhân cách cho học sinh. III/ CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC III/ CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC 1/ Luyện đọc 1/ Luyện đọc a/ Phương pháp đọc mẫu .Việc đọc mẫu ở các lớp dưới a/ Phương pháp đọc mẫu .Việc đọc mẫu ở các lớp dưới thường do GV đảm nhận . Đối với lớp 4,5 kỹ năng đọc thường do GV đảm nhận . Đối với lớp 4,5 kỹ năng đọc của HS được nâng cao .Do vậy tuỳ trường hợp cụ thể , của HS được nâng cao .Do vậy tuỳ trường hợp cụ thể , GV có thể chỉ định một số em khá,giỏi đọc mẫu trước. GV có thể chỉ định một số em khá,giỏi đọc mẫu trước. GV chỉ nên đọc mẫu toàn bài khi cả lớp đã hoàn thành GV chỉ nên đọc mẫu toàn bài khi cả lớp đã hoàn thành các bước luyện đọc trơn trước khi tìm hiểu và chuyển các bước luyện đọc trơn trước khi tìm hiểu và chuyển sang bước đọc diễn cảm .Các hình thức đọc mẫu bao sang bước đọc diễn cảm .Các hình thức đọc mẫu bao gồm gồm -Đọc cụm từ nhằm hướng dẫn cách phát âm đúng. -Đọc cụm từ nhằm hướng dẫn cách phát âm đúng. -Đọc câu đoạn hướng dẫn cách đọc diễn cảm. -Đọc câu đoạn hướng dẫn cách đọc diễn cảm. -Dùng lời nói kết hợp với chữ viết, ký hiệu và ĐDDH -Dùng lời nói kết hợp với chữ viết, ký hiệu và ĐDDH hướng dẫn HS cách ngắt nghỉ hơi, tốc độ đọc, đọc giọng hướng dẫn HS cách ngắt nghỉ hơi, tốc độ đọc, đọc giọng thích hợp . thích hợp . -Tổ chức HS đọc trơn –cá nhân , nhóm . -Tổ chức HS đọc trơn –cá nhân , nhóm . b/ Đọc thầm giao nhiệm vụ rõ đích của bước b/ Đọc thầm giao nhiệm vụ rõ đích của bước này là Tăng dần tốc độ đọc lướt để tìm từ ngữ chi tiết này là Tăng dần tốc độ đọc lướt để tìm từ ngữ chi tiết hay trong bài trong thời gian 2 phút hay 1 phút . hay trong bài trong thời gian 2 phút hay 1 phút . 2/Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài 2/Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài a/ Giúp học sinh hiểu nghĩa từ mới. a/ Giúp học sinh hiểu nghĩa từ mới. -GV có thể chọn một số từ nghĩa khó để giải -GV có thể chọn một số từ nghĩa khó để giải thích . thích . -Biện pháp thực hiện là tổ chức cho HS đọc -Biện pháp thực hiện là tổ chức cho HS đọc thầm nội dung chú thích rồi trình bày lại. thầm nội dung chú thích rồi trình bày lại. -Đối với những từ ngữ khó , GV có thể dùng -Đối với những từ ngữ khó , GV có thể dùng các từ cùng nghĩa , trái nghĩa để học sinh các từ cùng nghĩa , trái nghĩa để học sinh so sánh , đối chiếu. so sánh , đối chiếu. -Đặt câu với từ đó. -Đặt câu với từ đó. b/ Giúp HS nắm vững câu hỏi tìm hiểu bài b/ Giúp HS nắm vững câu hỏi tìm hiểu bài +Các biện pháp +Các biện pháp -Cho HS đọc thầm câu hỏi rồi trình bày lại -Cho HS đọc thầm câu hỏi rồi trình bày lại yêu cầu của câu hỏi đó. yêu cầu của câu hỏi đó. - GV giải thích thêm cho rõ các câu hỏi. - GV giải thích thêm cho rõ các câu hỏi. -Tách câu hỏi BT trong SGK thành một phần -Tách câu hỏi BT trong SGK thành một phần câu hỏi nhỏ hoặc bổ sung câu hỏi phụ để câu hỏi nhỏ hoặc bổ sung câu hỏi phụ để HS thực hiện . HS thực hiện . -Tổ chức HS trả lời hay thực hiện làm mẫu -Tổ chức HS trả lời hay thực hiện làm mẫu một phần câu hỏi để cả lớp nắm được yêu một phần câu hỏi để cả lớp nắm được yêu cầu câu hỏi. cầu câu hỏi. -Tổ chức HS làm việc cá nhân , làm việc -Tổ chức HS làm việc cá nhân , làm việc nhóm , cặp hoặc nhóm để trả lời câu hỏi nhóm , cặp hoặc nhóm để trả lời câu hỏi trên lớp. trên lớp. 3/Ghi bảng 3/Ghi bảng -Việc ghi bảng cần đảm bảo tính khoa -Việc ghi bảng cần đảm bảo tính khoa học, tính sư phạm và tính thẩm mỹ. học, tính sư phạm và tính thẩm mỹ. -Nội dung ghi bảng phải ngắn gọn , -Nội dung ghi bảng phải ngắn gọn , chính xác. chính xác. -Hình thức ghi bảng phải đẹp . -Hình thức ghi bảng phải đẹp . -Tiến trình ghi bảng phải kết hợp nhịp -Tiến trình ghi bảng phải kết hợp nhịp nhàng với tiến trình dạy học . nhàng với tiến trình dạy học . 4/Cấu trúc bài dạy tập đọc . 4/Cấu trúc bài dạy tập đọc . a/Giới thiệu bài a/Giới thiệu bài -GV có thể lựa chọn biện pháp và hình -GV có thể lựa chọn biện pháp và hình thức dẫn dắt HS vào bài mới có thể thức dẫn dắt HS vào bài mới có thể dùng tranh , vật thật hoặc lời giới dùng tranh , vật thật hoặc lời giới thiệu ngắn gọn , nhẹ nhàng gây hứng thiệu ngắn gọn , nhẹ nhàng gây hứng thú cho HS. thú cho HS. -Đối với bài tập đọc mở đầu chủ điểm -Đối với bài tập đọc mở đầu chủ điểm mới trước khi vào bài giáo viên giới mới trước khi vào bài giáo viên giới thiệu cho học sinh biết vài nét chính thiệu cho học sinh biết vài nét chính về nội dung chủ điểm sắp học . về nội dung chủ điểm sắp học . b/Hướng dẫn luyện đọc và tìm hiểu bài b/Hướng dẫn luyện đọc và tìm hiểu bài * * Luyện đọc Luyện đọc -1 hoặc 2 học sinh đọc toàn bài . -1 hoặc 2 học sinh đọc toàn bài . -HS đọc thành tiếng nối tiếp từng đoạn văn khổ thơ theo -HS đọc thành tiếng nối tiếp từng đoạn văn khổ thơ theo cách chia đoạn do GV hướng dẫn . cách chia đoạn do GV hướng dẫn . -GV có thể tổ chức cho HS đọc nối tiếp qua 3 vòng . -GV có thể tổ chức cho HS đọc nối tiếp qua 3 vòng . Vòng 1 HS đọc nối tiếp GV nghe và phát hiện những hạn Vòng 1 HS đọc nối tiếp GV nghe và phát hiện những hạn chế về cách phát âm ngắt nghỉ ngữ điệu câu để giúp đỡ chế về cách phát âm ngắt nghỉ ngữ điệu câu để giúp đỡ các em đọc đúng , rành mạch. các em đọc đúng , rành mạch. Vòng 2 HS đọc nối tiếp kết hợp nắm nghĩa từ ngữ khó Vòng 2 HS đọc nối tiếp kết hợp nắm nghĩa từ ngữ khó được chú giải trong SGK ,GV kết hợp sửa sai cho HS khi được chú giải trong SGK ,GV kết hợp sửa sai cho HS khi đọc các từ ngữ khó. đọc các từ ngữ khó. Vòng 3 HS đọc nối tiếp để GV đánh giá sự tiến bộ , tiếp Vòng 3 HS đọc nối tiếp để GV đánh giá sự tiến bộ , tiếp tục hướng dẫn nhắc nhở HS nếu HS còn đọc sai. tục hướng dẫn nhắc nhở HS nếu HS còn đọc sai. -HS đọc luyện đọc theo nhóm cặp nếu văn bản khó hoặc -HS đọc luyện đọc theo nhóm cặp nếu văn bản khó hoặc HS chưa đọc tốt. HS chưa đọc tốt. -HS đọc toàn bài. -HS đọc toàn bài. -GV đọc mẫu toàn bài . -GV đọc mẫu toàn bài . ** ** Tìm hiểu bài Tìm hiểu bài -GV hướng dẫn HS luyện đọc - hiểu Đọc và trả -GV hướng dẫn HS luyện đọc - hiểu Đọc và trả lời từng câu hỏi trong SGK theo các hình thức lời từng câu hỏi trong SGK theo các hình thức tổ chức dạy học thích hợp. tổ chức dạy học thích hợp. *** *** Đọc diễn cảm đối với văn bản nghệ thuật Đọc diễn cảm đối với văn bản nghệ thuật hoặc luyện đọc lại đối với văn bản phi nghệ hoặc luyện đọc lại đối với văn bản phi nghệ thuật thuật -GV hướng dẫn HS đọc từng đoạn nối tiếp và tìm -GV hướng dẫn HS đọc từng đoạn nối tiếp và tìm hiểu cách đọc diễn cảm đối với văn bản nghệ hiểu cách đọc diễn cảm đối với văn bản nghệ thuật đọc đúng kiểu loại văn bản đối với văn thuật đọc đúng kiểu loại văn bản đối với văn bản phi nghệ thuật ; hướng dẫn HS luyện đọc bản phi nghệ thuật ; hướng dẫn HS luyện đọc kỹ 1 đoạnđọc cá nhân đọc theo cặp , đọc theo kỹ 1 đoạnđọc cá nhân đọc theo cặp , đọc theo nhóm .Sau đó tổ chức cho HS thi đọc trước nhóm .Sau đó tổ chức cho HS thi đọc trước lớp . lớp . -Đối với bài có yêu cầu học thuộc lòng sau khi -Đối với bài có yêu cầu học thuộc lòng sau khi hướng dẫn HS đọc diễn cảm GV dành thời gian hướng dẫn HS đọc diễn cảm GV dành thời gian thích hợp cho HS tự học để thuộc từ 1 – 2 thích hợp cho HS tự học để thuộc từ 1 – 2 đoạn đọc diễn cảm trước lớp. đoạn đọc diễn cảm trước lớp. [...]... cảm và luyện đọc lại 10 phút củng cố dặn dò 3 phút *Qua thảo luận và nghiên cứu phương pháp dạy học môn tập đọc lớp 4- 5, CM Trường thống nhất -Hướng dẫn cách đọc văn bản được tiến hành ở phần đọc diễn cảm -Phần nội dung , ý nghĩa bài học được thực hiện ở phần củng cố sau khi hướng dẫn HS đọc diễn cảm - Tiết tập đọc lớp 5 tiến hành như tiết tập đọc lớp 4 *QUY TRÌNH DẠY TẬP ĐỌC LỚP 4, 5 A/Kiểm tra... chính hoặc đọc lại bài tập đọc nêu ý nghĩa GV có thể cho HS ghi vào vở nội dung bài học; GV nhận xét tiết học, dặn dò về yêu cầu bài tập đọc và chuẩn bị bài sau *Thời gian tối đa dành cho 1 tiết tập đọc là 40 trình giảng dạy bài tập đọc được phân bố như sau -Kiểm tra bài cũ từ 3-5 phút -Dạy bài mới từ 35-37 phút trong đó giới thiệu bài 1 phút luyện đọc 10 phút tìm hiểu bài 12 phút đọc diễn... đọc diễn cảm - Tiết tập đọc lớp 5 tiến hành như tiết tập đọc lớp 4 *QUY TRÌNH DẠY TẬP ĐỌC LỚP 4, 5 A/Kiểm tra bài cũ B/Dạy bài mới 1/Giới thiệu bài 2/Hướng dẫn luyện đọc và tìm hiểu bài a/ Luyện đọc b/Tìm hiểu bài c/Hướng dẫn đọc diễn cảm 3/Củng cố ,dặn dò . BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ MÔN TẬP BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ MÔN TẬP ĐỌC LỚP 4 ĐỌC LỚP 4 Phòng GD Núi Thành TH Phạm Văn Đồng Người thực hiện Hoàng. hướng dẫn HS đọc diễn cảm . củng cố sau khi hướng dẫn HS đọc diễn cảm . - Tiết tập đọc lớp 5 tiến hành như tiết tập đọc lớp 4. - Tiết tập đọc lớp 5 tiến hành như tiết tập đọc lớp 4. * * QUY. môn tập đọc lớp 4- 5, CM Trường thống nhất tập đọc lớp 4- 5, CM Trường thống nhất -Hướng dẫn cách đọc văn bản được tiến hành ở phần đọc -Hướng dẫn cách đọc văn bản được tiến hành ở phần đọc - Xem thêm -Xem thêm Báo cáo chuyên đề Tập đọc lớp 4, Báo cáo chuyên đề Tập đọc lớp 4,
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phíCHUYÊN ĐỀMỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 2 KHẮC PHỤC LỖI PHỤ ÂM ĐẦUTRONG PHÂN MÔN CHÍNH TẢ NGHE VIẾTI/ ĐẶT VẤN ĐỀTrong quá trình dạy môn Tiếng Việt, nhiệm vụ của GV Tiểu học là hình thành và phát triểnở học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Phân môn Chính tả có nhiệm vụ rèn kĩ năng nghe, viết,đọc. Qua chữ viết đúng, đẹp GV bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sựtrong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt cho HSPhân môn Chính tả trong nhà trường có nhiệm vụ giúp HS nắm vững các quy tắc chính tảvà hình thành kĩ năng chính tả. Ngoài ra, nó còn rèn cho học sinh một số phẩm chất như tính cẩnthận, óc thẩm việc nắm vững vị trí, nhiệm vụ, tính chất, nội dung, chương trình, phương phápgiảng dạy phù hợp, GV còn phải nắm vững các nguyên tắc dạy chính tả Tiếng chính tả theo khu vực phải xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗi chính tả của học sinhở từng khu vực, từng vùng miền để hình thành nội dung giảng dạy khi xác định được trọng điểmchính tả cần dạy cho HS ở từng khu vực, từng địa phương. Như vậy, trước khi dạy, GV cần tiếnhành điều tra cơ bản để nắm lỗi chính tả phổ biến của HS từ đó lựa chọn nội dung giảng dạy thíchhợp với đối tượng HS lớp mình thực tế điều tra qua các bài viết của học sinh khối 2 chúng tôi nhận thấy học sinh viếtchữ sai lỗi nhiều, tỉ lệ học sinh yếu đối với phân môn chính tả đầu năm là 50,8%. Vì vậy chúng tôiquyết định xây dựng chuyên đề “MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH KHỐI 2 KHẮC PHỤCLỖI PHỤ ÂM ĐẦU TRONG PHÂN MÔN CHÍNH TẢ” với mục đích đề xuất một số biện phápnhằm nâng cao chất lượng phân môn chính tả của khối THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY MÔN TIẾNG VIỆT Ở LỚP 21. THƯC TRẠNG CHUNG Trường TH Đinh Trang Hòa 2 là một khu kinh tế mới, nơi tập trung dân cư của rất nhiều vùngmiền trong cả nước sinh sống miền Bắc, miền Trung, miền Nam và người địa phương là dân tộcK’Ho. Nằm ở vị trí xa nơi trung tâm, việc giao lưu để phát triển vốn ngôn ngữ còn nhiều hạn một vùng miền lại có những lỗi phát âm khác nhau nên việc nghe- viết, phát âm các em cònVnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phícó nhiều hạn chế do phương ngữ. Chính vì vậy, việc nghe- viết chính tả các em thường mắc nhiềulỗi. Mặt khác, đa số gia đình các em có đời sống khó khăn nên việc quan tâm đến việc học tập củacác em hầu như được khoán trắng cho giáo ra trong quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dụ / k / ghi bằng c, k, q, âm “gờ” ghi bằng g , gh; âm “ng” ghi bằng ng, môn Chính tả có một vị trí rất quan trọng ở bậc tiểu học bởi vì giai đoạn Tiểu học là giaiđoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tả cho học sinh. Chính tả được bố trí thànhmột phân môn độc lập, có tiết dạy riêng trong khi bậc trung học cơ sở không tiết học trong phân môn Chính tả ở chương trình tiểu học có hai phần đó là chính tả đoạnbài và chính tả âm vần. Phần chính tả đoạn bài là học sinh nghe, viết tập chép một đoạn văn,đoạn thơ theo số lượng tiếng của từng bậc học trong chuẩn KTKN sau khi được đọc và tìm hiểucác hiện tượng chính tả trong thời gian khoảng 15 phút. Nội dung các bài chính tả âm vần là luyệnviết đúng chữ ghi tiếng có âm, vần, thanh dễ viết sai chính tả. Thời gian dành cho bài tập chính tảâm vần dù là rất ngắn so với chính tả đoạn bài song việc rèn kỹ năng qua bài tập đó có ý nghĩa rấtlớn đối với học sinh. Qua các bài tập chính tả âm vần các em được rèn luyện để tránh việc viết saichính tả các chữ ghi tiếng có âm, vần, thanh dễ lẫn nhằm đạt mục tiêu môn THỰC TRẠNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢNG DẠYa. Đối với học sinh- Học sinh viết sai chính tả chủ yếu do các em bị mất căn bản từ lớp dưới, chưa nắm vững âm vần,chưa phân biệt được cách phát âm của GV, chưa hiểu rõ nghĩa của từ, chưa có ý thức tự học, tựrèn ở nhà, chưa chú ý khi viết chính thống kê các loại lỗi, học sinh thường mắc phải các loại lỗi sau- Lỗi do vô ý, chưa cẩn thận như thiếu dấu phụ, thiếu dấu thanh,… - Lỗi do không hiểu nghĩa của từ để dành - tranh giành- Lỗi do không nắm được quy tắc chính tả gh, ngh chỉ đứng trước i, e, ê.g / gh đua geng / ngh củ ngệc / k cây céoVnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí- Lỗi phát âm do sai phương ngữ l - n, s - x, tr - ch,…ch / tr con chăns / x chim xẻQua thực tế các lỗi về ch/ tr; s/ x; r/ g ; v/d/ gi , l/n là phổ biến hơn cảNguyên nhân- Do các em phát âm theo thói quen địa phương- Do các em chưa hiểu nghĩa từ- Về nhà ít đọc sách, báo nên không nhớ mặt Khi thầy cô giảng bài phân tích các chữ khó các em không chú ý lắng Do không thuộc các quy tắc chính Về phía phụ huynh- Phụ huynh chưa thật quan tâm đến việc kiểm tra bài vở của con Một số phụ huynh phát âm chưa chuẩn các âm đầu dẫn đến con cái cũng bị ảnh hưởng phát Về dạy chính tả của giáo viên- Trong quá trình dạy phân môn chính tả, giáo viên chưa làm công tác điều tra để phân biệt cácnhóm đối tượng học sinh viết sai chính tả để giáo viên có biện pháp với từng nhóm đối Trong quá trình đọc cho học sinh viết giáo viên chưa quan tâm đến cách đọc, giáo viên chủyếu đọc theo cụm từ để học sinh viết mà chưa đọc trọn câu để học sinh nghe và hiểu câu văn đểviết Đối với các bài tập âm vần, giáo viên chưa giải nghĩa từ, khắc sâu kiến thức bằng cách đặt câuhoặc đặt từ vào một số tình huống cụ thể để học sinh hiểu nghĩa của từ. Một số giáo viên chưa lựachọn được các bài tập cần làm phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình nên chưa phát huy hếttác dụng của bài tập để sửa lỗi sai cho học Việc chấm bài của học sinh thực hiện thường xuyên, song việc liệt kê lỗi và yêu cầu học sinhsửa lỗi giáo viên chưa thực sự quan tâm .III- BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢChuyên đề Phân môn chính tả lớp 2Chuyên đề Chính tả lớp 2 và một số biện pháp khắc phục trình trạng viết sai lỗi chính tả của học sinh lớp 2 như thế nào? Mời các bạn cùng tham khảo bài viết dưới Chuyên đề Chính tả lớp 2, các bạn tham khảo luyện tập, củng cố các dạng bài tập Toán 2 và Tiếng Việt lớp 2 để chuẩn bị cho bài thi cuối học kì 1 lớp 2 được VnDoc sưu tầm, chọn lọc chi tiết và liên tục cập nhật cho các thầy cô, các bậc phụ huynh cho con em mình ôn những giờ học tập căng thẳng, chắc hẳn các bạn sẽ rất mệt mỏi. Các bạn hãy dành cho mình 1 chút thời gian để giải trí và lấy lại tinh thần với những bài trắc nghiệm EQ, trắc nghiệm IQ vui dưới đâyĐo mức độ "biến thái" của bạn!Loài vật nào ngủ quên trong tâm hồn bạn?Bạn có thuộc lòng các bảo bối của Doraemon?Bạn là Công chúa, Nàng tiên hay Phù thủy?
xin gửi tới bạn đọc bài viết biện pháp rèn luyện kỹ năng tập đọc cho học sinh Tiểu học để bạn đọc cùng tham khảo. Bài viết nêu rõ những kỹ năng về việc rèn luyện tập cho học sinh Tiểu học. Mời bạn đọc cùng tham khảo chi tiết bài viết tại đây. I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong các môn học thì môn Tiếng Việt có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện qua bốn kỹ năng “Nghe – Nói – Đọc – Viết. Phân môn Tập đọc trong trường Tiểu học có một ý nghĩa rất to trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi giúp trẻ em chiếm lĩnh được mọi ngôn ngữ dùng trong giao tiếp và học là một công cụ để học tập các môn học khác. Thông qua việc dạy và học… Tiếng Việt góp phần rèn luyện tư duy, cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng việt, về tự nhiên, xã hội và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam. Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của người Việt Nam. Trong bốn kỹ năng “Nghe – Nói – Đọc – Viết” thì kỹ năng “Đọc” có một ý nghĩa to lớn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục tình cảm chuẩn mực đạo đức và phát triển trí tuệ, tư duy cho học sinh. Vậy làm thế nào để nâng cao kĩ năng đọc cho học sinh, làm thế nào để nâng cao chất lượng phân môn Tập đọc giúp các em thuận lợi trong quá trình học tập môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác. Đó là điều khiến tôi rất trăn trở và tìm ra những giải pháp góp phần nâng cao kĩ năng đọc cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng. Đây chính là lí do mà tôi chọn đề tài “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 3”. II. MỤC ĐÍCH VIẾT SÁNG KIÊN KINH NGHIỆM Tiếng Việt là một môn khoa học xã hội cơ bản liên quan đến các môn học khác và hoạt động giao tiếp trong cuộc sống. Học phân môn Tập đọc là để đọc thông, viết thạo đối với các em học sinh Tiểu học, vì vậy phân môn Tập đọc góp phần cho việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh. – Giáo viên có nhiệm vụ hướng dẫn để học sinh phát âm đúng, đọc trôi chảy, hiểu được nghĩa của từ, hiểu được nội dung văn bản, tiến tới đọc hay, đọc diễn cảm. – Giáo viên phải là người tổ chức, hướng dẫn các em sử dụng vốn Tiếng Việt thông qua kỹ năng “Nghe – Nói – Đọc – Viết” làm công cụ học các môn học khác và tìm hiểu thế giới xung quanh. Biết vận dụng kiến thức trong giao tiếp, ứng xử, hành động, việc làm thể hiện sự hiểu biết của mình. – Giáo dục cho các em phát triển về trí tuệ, năng lực, phẩm chất để trở thành người công dân tốt, có phẩm chất tốt là một nhân cách của con người Việt Nam, đó là trí tuệ phát triển, ý chí cao cả và tình cảm đẹp. Trong tương lai biết lao động tạo ra của cải vật chất phù hợp với từng giai đoạn lứa tuổi các em. III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 3 2. Khách thể nghiên cứu Gồm 58 em học sinh của lớp 3A1tôi làm chủ nhiệm. IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 1. Nhiệm vụ khái quát Xây dựng và đề xuất một số biện pháp khắc phục những sai lầm thường gặp trong khi học sinh đọc, nhằm nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt nói chung và nâng cao kĩ năng đọc của học sinh nói riêng. 2. Nhiệm vụ cụ thể – Điều tra thực trạng những sai lầm mà học sinh hay mắc phải trong khi đọc bài ở môn Tập đọc nói riêng và các môn học khác nói chung. – Đề xuất và áp dụng một số biện pháp khắc phục những sai lầm trên. – Thống kê các kết quả thu được sau khi áp dụng các biện pháp. – Hệ thông lí luận, tổng kết rút kinh nghiệm. V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để thực hiện mục đích đề ra của sáng kiến này, tôi đã áp dụng các biện pháp sau 1. Phương pháp chính Nghiên cứu lí luận; Phương pháp khảo sát; Phương pháp thống kê; Phương pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp thực nghiệm; Tổng kết và trao đổi kinh nghiệm. 2. Phương pháp bổ trợ Phương pháp kiểm tra, đánh giá; Phương pháp nghiên cứu; Phương pháp trò chuyện. VI. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Với đề tài này việc nghiên cứu phải tiến hành ở nhiều trường Tiểu học với nhiều lớp khác nhau, nhưng vì điều kiện hạn chế tôi chỉ nghiên cứu đề tài này ở một khía cạnh nhỏ Biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 3 trong trường Tiểu học nơi tôi công tác năm học 2018-2019. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. CƠ SỞ LÍ LUẬN Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng. Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam. Bởi vậy, nâng cao năng lực đọc cho học sinh nhất là đọc đúng, đọc diễn cảm là hết sức cần thiết đối với giáo viên ở bậc Tiểu học. – Dạy tốt phân môn Tập đọc còn tạo cho học sinh một nền tảng vững chắc để học tốt môn Tiếng Việt và tất cả các phân môn khác. Có đọc đúng, đọc trôi chảy mới cảm thụ được bài văn và đọc đúng sẽ hiểu tất cả các văn bản năng lực này không phải tự nhiên mà lực này phải từng bướchình thành và trường Tiểu học nhận nhiệm vụ đặt viên gạch đầu tiên. – Tập đọc là một phân môn thực hành, nhiệm vụ quan trọng nhất là hình thành những năng lực đọc cho học sinh từ 4 yêu cầu về chất lượng “đọc” Đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý thức và đọc diễn cảm. Cụ thể + Đọc đúng, đọc nhanh là đọc lưu loát, trôi chảy. + Đọc có ý thức là đọc thông, hiểu được nội dung. + Đọc diễn cảm là ngắt, nghỉ hợp lí, giọng đọc phù hợp với từng nội dung, câu đọc, bài đọc, thể hiện nội tâm trong từng lời nói nhân vật hay nội tâm toàn bộ bài đọc. Các kĩ năng đọc tác động tích cực qua lại lẫn nhau vì vậy trong dạy học không thể xem nhẹ yếu tố nào. – Phân môn tập đọc còn hình thành ở các em phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, giúp các em thấy được lợi ích của việc đọc trong học tập và cuộc sống. – Ngoài ra, phân môn Tập đọc còn có nhiệm vụ + Làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh. + Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh. + Giáo dục tư tưởng, đạo đức, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh. II. THỰC TRẠNG VIỆC RÈN KĨ NĂNG ĐỌC CHO HỌC SINH 1. Thực trạng về tâm sinh lí lứa tuổi học sinh lớp 3 Để sửa lỗi phát âm và rèn kỹ năng phát âm chuẩn trong dạy học tập đọc cho học sinh lớp 3 ngoài việc nắm được các lỗi mà các em thường mắc dẫn đến việc phát âm sai, chưa chuẩn, nắm được bản chất hay nguyên nhân mắc lỗi phát âm chúng ta cần hiểu được đặc điểm tâm sinh lí các em học sinh. Việc sửa lỗi phát âm trong dạy học tập đọc cho học sinh lớp 3 phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tâm lí của học sinh. Ở giai đoạn Tiểu học, do các cơ quan cảm giác chưa phát triển hoàn thiện nên bộ máy phát âm của các em chưa chuẩn, các em thường đọc lẫn l/n, r/d/gi, s/x…hoặc đọc các từ khó còn lệch lạc như khúc khuỷu, ngoằn ngoèo… Chính vì vậy khi dạy tập đọc cho học sinh lớp 3, giáo viên cần phải chú ý đến cách phát âm, chú ý sửa lỗi phát âm cho học sinh một cách có định hướng, toàn diện nhằm giúp các em sử dụng Tiếng Việt hiệu quả trong học tập cũng như trong giao tiếp. Qua thực tế dạy lớp 3, tôi nhận thấy học sinh yếu các môn là do đọc yếu, đọc sai, phát âm không đúng và đọc không mạch lạc dẫn đến không hiểu nội dung văn bản. Vì vậy việc tiếp thu nội dung, kiến thức mà văn bản đem lại không hiệu quả. Vậy để giúp học sinh sửa lỗi phát âm, rèn luyện kỹ năng phát âm chuẩn để học tốt phân môn này, giáo viên cần có sự quan tâm sát sao, có những định hướng tích cực trong việc sửa lỗi phát âm cho học sinh, nhưng cũng cần có sự am hiểu sâu sắc tâm sinh lí học sinh nhất là học sinh lớp 3. 2. Khái quát về tình hình học sinh Năm học 2018-2019 tôi được giao nhiệm vụ giảng dạy và chủ nhiệm lớp 3 với tổng số 58 học môn Tập đọc, sau vài tuần nhận lớp tôi thấy chất lượng đọc của học sinh chưa gặp tiếng có phụ âm “l” thì các em đọc thành “n” và ngược lại. Một số em lại đọc vần “uyên” là “uên” hay “anh” thành “ăn”, “sởi” là “sọi”…chính vì sự hạn chế đó dẫn đến kết quả học tập của các em chưa cao. Đề nâng cao chất lượng học tập của học sinh và hoàn thành nhiệm vụđược giao tôi đã tìm hiểu và nắm rõ tình hình học sinh lớp ngay khi được phân công bằng cách xem sổ chủ nhiệm năm học trước đồng thời trao đổi với giáo viên chủ nhiệm cũ để nắm rõ hơn. Trong quá trình giảng dạy tôi đã tìm hiểu những nguyên nhân các em thường hay mắc phải khi đọc, từ đó đặt ra mục tiêu là phải hình thành và giúp các em có kĩ năng đọc tốt. Sau đây là một số những sai lầm mà học sinh lớp tôi thường hay mắc phải khi đọc 3. Một số những lỗi sai mà học sinh thường mắc phải khi đọc Lỗi phát âm – Tiếng có phụ âm đầu Học sinh rất hay đọc nhầm các tiếng có phụ âm đầu như l- n; ch -tr; d -r – gi Ví dụ “long lanh” thì đọc là “ nong nanh” – Các lỗi về vần Ví dụ “khuỷu tay” thì đọc là “khyủ tay” “xe buýt” thì đọc là “xe být” – Các lỗi về thanh Các em còn đọc nhầm lẫn giữa thanh ngã và thanh hỏi Ví dụ “nghỉ ngơi” thì đọc là “nghị ngơi” Học sinh đọc ê a, ngắc ngứ chưa lưu loát Trong quá trình dạy học sinh đọc tôi thấy các em mắc lỗi này khá nhiều. Các em đọc vấp và ngắc ngứ Học sinh đọc thiếu từ hoặc thêm từ không có trong văn bản Ví dụ 1 Bài “Các em nhỏ và cụ già”- SGK Tiếng Việt lớp 3 tập 1 trang 26 có câu “Mặt trời đã lùi dần về chân núi phía tây. Đàn sếu đang sải cánh trên cao.” Rất nhiều học sinh đọc như sau “Mặt rời đã lùi dần về phía chân núi phía tây. Đànsếu đang sải cánh trên cao.”Học sinh đã tự thêm từ “phía” vào câu văn. Học sinh ngắt, nghỉ hơi khi đọc câu chưa hợp lí Một số học sinh chưa ngắt hơi sau những tiếng có dấu phây , hay chưa biết cách ngắt hơi khi đọc những câu văn dài. Ví dụ Trong bài “Cửa Tùng” – SGK Tiếng Việt lớp 3 tập 1 trang 109 học sinh đọc câu ngắt, nghỉ hơi sai như sau “Thuyền chúng tôi/ đang xuôi dòng Bến Hải/ con sông in đậm dấu ấn/ lịch sử một thời chống Mĩ cứu nước.// Đôi bờ thôn xóm/ mướt màu xanh/ lũy tre làng và những rặng phi lao/ rì rào gió thổi.//” Học sinh đọc vẹt, không hiểu văn bản Chúng ta đều biết đọc vẹt là cách nói ẩn dụ, ví cách đọc của học sinh với con vẹt – bắt chước nói nhại lại nhưng không hiểu lớp tôi có khá nhiều học sinh đọc như sinh đọc rất trôi chảy nhưng không hiểu là mình đọc gì, không nắm chắc nội dung bài, đọc một cách máy móc thụ động. Học sinh đọc đúng văn bản mà chưa hay Một số em chưa biết nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, gợi ra học sinh còn chưa xác định đúng giọng đọc trong bài. Bên cạnh đó còn nhiều học sinh đọc bài với tốc độ chưa phù hợp, có em đọc quá nhanh nhưng có em lại đọc quá chậm. 4. Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài Tôi đã tiến hành khảo sát học sinh trong hai tuần đầu nhận lớp bằng cách cho các em đọc các bài tập đọc trong Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 và một số bài văn bài thơ hay trong các sách tham khảo như Bài 1 Hai bàn tay em Bài 3 Khi mẹ vắng nhà Bài 2 Đơn xin vào Đội Bài 4 Cô giáo tí hon Bảng thống kê số học sinh phát âm đúng, sai đối với từng lỗi cụ thể như sau a. Lỗi phát âm Mô tả tiếng, từ dễ lẫn Số học sinh của lớp Học sinh phát âm đúng Học sinh phát âm sai Số lượng % Số lượng % Tiếng có phụ âm đầu “1” 58 38 65,5 20 34,5 Tiếng chứa vần “uyên” 58 45 77,6 13 22,4 Tiếng chứa thanh “hỏi” 58 48 82,7 10 17,3 Tiếng chứa vẫn “anh” 58 47 81 11 19 b. Lỗi đọc và hiểu văn bản. Mô tả Số học sinh của lớp Số học sinh mắc lỗi % Đọc ê a, ngắc ngứ, chưa lưu loát,… 58 25 43,1 Đọc vẹt, không hiểu văn bản 58 25 43,1 Đọc đúng song chưa hay diễn cảm 58 20 34,5 Đọc đúng, đọc hay diễn cảm 58 15 25,9 5. Nguyên nhân dẫn đến học sinh mắc những lỗi sai trên Về phía giáo viên Bản thân tôi và một số giáo viên trong khối đã mắc những sai lầm sau – Chưa biết dựa vào kiến thức cũ, kiến thức thực tế của học sinh để hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu kiến thức mới dẫn đến học sinh thụ động tiếp thu kiếnthức mà thiếu đi sự liên kết các mạch kiến thức đồng thời ít có sự liên hệ với thực tế cuộc sống hàng ngày của học sinh. – Giáo viên còn lệ thuộc vào sách giáo khoa và tài liệu tham khảo mà chưa biết sáng tạo sao cho phù hợp với nội dung bài học, đối tượng học sinh, tài năng của giáo viên, phương tiện dạy học,… của trường, của lớp mình. Về phía học sinh – Học sinh ít đọc sách, chưa có thói quen say mê đọc sách. Nếu có đọc thì học sinh cũng chưa biết cách đọc, chỉ đọc qua loa, đại khái, đọc cho có cho xong mà không chịu tìm hiểu. – Đa số học sinh đọc chưa lưu loát, còn đánh vần, chưa ý thức được thói quen tập trung chú ý khi đọc thầm. – Học sinh chưa có thói quen chuẩn bị bài ở nhà trước khi đến lớp. Khả năng ngôn ngữ của các em còn yếu, tư duy của các em chưa em thường phát âm lẫn các phụ âm đầu, vần, thanh. Về phía phụ huynh – Phụ huynh chưa quan tâm đến việc đọc của con. Phụ huynh nghĩ rằng việc dạy đọc cho con là việc của giáo viên. Phụ huynh chỉ quan tâm xem con có làm toán có tốt không, làm văn đã hay chưa? III. CÁC BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 3 Từ thực trạng và nguyên nhân nêu trên, tôi mạnh dạn nghiên cứu và áp dụng các giải pháp như sau 1. Biện pháp 1 Rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh * Mục tiêu của biện pháp Chức năng của môn Tập đọc là luyện đọc nên rèn cho học sinh đọc đúng, đọc trôi chảy là mục tiêu đầu tiên của tiết vậy đây là biện pháp đầu tiên mà tôi áp dụng và áp dụng trong tất cả các giờ tập đọc. * Cách thực hiện biện pháp Rèn phát âm đúng từ chứa tiếng khó Để rèn luyện cho học sinh phát âm chuẩn giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi và sửa lỗi cho học sinh. Giáo viên cần nắm được cụ thể học sinh nào hay phát âm sai và sai ở chỗ nào để kịp thời sửa chữa. Rèn cho học sinh có ý thức nói và đọc thật đúng, luôn nhắc nhở các em rèn đọc đúng không chỉ trong các tiết rèn đọc mà cả trong các giao tiếp hàng ngày. Trong giờ tập đọc giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh kèm cặp nhau đọc, đọc trong nhóm, giáo viên yêu cầu học sinh đọc tốt kèm cho học sinh đọc chưa nhở các em cùng bảo nhau có ý thức phát âm đúng trong mọi tình huống. Tập cho học sinh quan sát lời nói của giáo viên, của bản thân mình để đọc, nói cho đúng. Trong các giờ Tập đọc giáo viên gọi học sinh đọc khá, tốt đọc bài và yêu cầu các em đọc thầm theo, tìm những tiếng khó đọc, các phụ âm hay đọc sai. Gọi học sinh phát hiện và phát âm giáo viên kết luận và sửa lại cách phát âm cho các em. Ví dụ Trong lớp có nhiều em khi đọc luôn phát âm sai âm “n” thành “l”.Trường hợp này giáo viên gọi học sinh khá phát âm chuẩn đọc trước, các em phát âm sai nghe, đọc lại, đọc nhiều lần cho đến khi đọc những tiết học khác, giáo viên cho các em đó đọc nội dung hoặc yêu cầu của bài, chú ý xem các em đó có mắc lỗi nữa không để kịp thời uốn nắn hoặc sửa chữa. Rèn đọc đúng câu, đoạn văn Để đọc đúng, đọc hay các câu văn dài, đoạn văn tiêu biểu,…giáo viên phải nói đến tiêu chí cường độ và tư thế khi đọc, tức là rèn đọc to, đọc đàng hoàng. Cho học sinh biết khi mình đọc thành tiếng là người đọc có thể đọc cho mình hoặc cho người khác hoặc cho cả hai. Trong các giờ tập đọc, kể chuyện giáo viên chú ý nhận xét sửa sai cho học sinh về cách đọc, cách kể chuyện thật chu đáo để làm cơ sở cho việc đọc bài mới được tốt đọc nối tiếp câu phát hiện ra học sinh nào chưa đúng cần sửa chữa đọc phải diễn cảm được ý trọn vẹn, không được bỏ ngỏ. Khi đọc nối tiếp đoạn theo tôi nên cho các em một số câu hỏi gợi mở để các em thảo luận tìm ra cách đọc cho mỗi đoạn hoặc giọng đọc của các nhân vật sau đó giáo viên sẽ là người chốt lại cách đọc. Khi đọc đoạn gọi một học sinh đọc, gọi học sinh nhận xét bạn và đọc lại, chú ý đọc ngắt, nghỉ và nhấn giọng ở các từ ngữ gợi tả, gợi cảm cho phù hợp. Ví dụ Bài “Cậu bé thông minh”- SKG Tiếng Việt 3 Tập 1 Trang 4. Sau đây là cách đọc một số câu Ngày xưa,/ có một ông vua muốn tìm người tài ra giúp nước.// Vua hạ lệnh cho mỗi làng trong vùng nọ/ nộp một con gà trống biết đẻ trứng,/ nếu không có thì cả làng phải chịu tội.// giọng đọc chậm rãi. Cậu bé kia,/ sao dám đến đây làm ầm ĩ ? // đọc với giọng oai nghiêm. Thằng bé này láo, / dám đùa với trẫm! / Bố ngươi là đàn ông thì đẻ sao được?// giọng bực tức, lên giọng ở cuối câu. Muôn tâu, / vậy sao Đức vua lại hạ lệnh cho làng con/ phải nộp gà trống biết đẻ trứng ạ? // Đọc với giọng thể hiện sự lễ phép, bình tĩnh, tự tin. – Giáo viên cho học sinh đọc nối tiếp đoạn, yêu cầu cả lớp lắng nghe và tìm câu dài, khó đọc. – Sau khi học sinh phát hiện được câu dài, khó đọc giáo viên ghi vào bảng phụ rồi gọi 1, 2 học sinh đọc. Giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét thông qua hệ thống câu hỏi gợi ý Em nào có ý kiến khác? Bạn đọc như thế nào? … Mời một vài em đọc lại. Học sinh đọc và ngắt hoặc nghỉ hơi để các bạn khác nhận xét bổ sung và giáo viên thống nhất cách đọc. Nhằm luyện kĩ năng đọc thầm và tập trung theo dõi người khác đọc để phối hợp nhịp nhàng khi đọc lời nhân vật tôi cho học sinh thi đọc phân vai. Với bài tập đọc có lời nhân vật tôi thường dành 2 – 3 phút cho các em thi đọc. Ví dụ Bài “Cuốn sổ tay” – SGK Tiếng Việt 3 – tập 2 – Giáo viên chia lớp thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm có 4 em. Yêu cầu các em đọc theo hình thức phân vai. Giáo viên mời 1 nhóm đọc trước lớp, cả lớp lắng nghe và nhận xét cách đọc của từng nhân vật sau đó 2 đến 3 nhóm thi đọc để chọn ra nhóm, cá nhân đọc hay nhất. Trong giờ dạy giáo viên cũng đừng quên nhận xét, tuyên dương, khen ngợi những em đọc tốt để khuyến khích các em đọc tốt hơn nữa ở những tiết học sau. Rèn đọc lưu loát, trôi chảy toàn bài Giáo viên cũng nên cho những em học sinh này luyện đọc cá nhân nhiều lần, đọc cả yêu cầu bài tập hoặc nội dung ở những môn học khác như Toán, Tập làm văn, Luyện từ và câu,… Qua mỗi lần tiến bộ của các em giáo viên đừng quên dành những lời khen, động viên khích lệ các em dù đó chỉ là kết quả nhỏ, vì đó là những thành công ban đầu của các em mà mỗi giáo viên cần trân trọng. 2. Biện pháp 2 Rèn học sinh đọc kết hợp với giải nghĩa của từ * Mục tiêu của biện pháp Ở lớp 3, phần giải nghĩa từ khó được giải nghĩa song song cùng với bước luyện đọc hoặc đan xen vào phần tìm hiểu nội dung các em hiểu nghĩa của từ cũng là biện pháp giúp học sinh đọc đúng, diễn cảm và cảm thụ được các văn bản. * Cách thực hiện biện pháp Có rất nhiều cách để giáo viên giải nghĩa từ cho học sinh vừa dễ nhớ, vừa dễ hiểu và luyện đọc đúng sau khi đã hiểu nghĩa của từ. Giáo viên có thể chọn nhiều cách để giải nghĩa giải nghĩa bằng từ đồng nghĩa, bằng từ trái nghĩa, bằng tranh minh họa, bằng cách mô tả hoặc bằng cách đặt câu với từ cần giải nghĩa. Ví dụ 1 Khi các em luyện đọc bài “Cuốn sổ tay”, để giải nghĩa từ “diện tích” tôi giúp các em hiểu từ mới này bằng cách đọc giải nghĩa trong sách giáo khoa “diện tích” nghĩa là bề mặt của sự vật. Ví dụ 2 Hoặc khi giải nghĩa từ “quả cầu giấy” trong bài “Cùng vui chơi”- SGK Tiếng Việt 3, tập 2 – tôi cho học sinh quan sát quả cầu giấy để giải thích Là đồ chơi gồm một đế nhỏ hình tròn, trên mặt cắm lông chim hoặc một túm giấy mỏng, dùng để đá chuyền qua chuyền lại cho nhau. – Hoặc tôi muốn giải nghĩa từ “già làng” – bài “Nhà Rông ở Tây Nguyên” tôi cho học sinh xem ảnh người già vùng dân tộc để học sinh hiểu già làng là người cao tuổi, có uy tín được dân làng cử ra điều khiển công việc chung ở các vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Ví dụ 4 – Khi tôi muốn học sinh hiểu từ “Quốc gia” – Bài “Cuốn sổ tay”, tôi cho các em đọc phần chú giải trong sách giáo khoa sau đó yêu cầu các em đặt câu với từ đó. 3. Biện pháp 3 Rèn đọc đúng tiến tới bước đầu rèn đọc hay diễn cảm * Mục tiêu của biện pháp Đọc diễn cảm là một yêu cầu được đặt ra khi đọc những văn bản có những yếu tố nghệ thuật. Đó là việc đọc thể hiện kỹ năng làm chủ ngữ điệu, chỗ ngừng giọng, cường độ giọng… để thể hiện đúng tư tưởng, tình cảm mà tác giả đã gửi gắm trong bài đọc, đồng thời thể hiện được sự thông hiểu, cảm thụ của người đọc qua bài đọc. Để đọc diễn cảm thì người đọc phải làm chủ được tốc độ đọc, chỗ ngắt giọng, biết nhấn giọng ở những từ ngữ gợi cảm, gợi tả, biết đọc đúng ngữ điệu khi gặp câu hỏi, câu cảm… Với đoạn văn các em phải biết thể hiện đúng ngữ điệu của câu cảm, nhấn giọng ở một số từ ngữ tả và biết ngắt giọng ở câu văn dài giúp người nghe hiểu được cảm xúc của tác giả. * Cách thực hiện biện pháp Sau khi học sinh hiểu nội dung bài đọc thì các em sẽ biết cách diễn đạt thích hợp dưới sự hướng dẫn của giáo viên để hình thành kỹ năng đọc theo các bước – Tập lấy hơi và tập thở Biết thở sâu ở chỗ ngưng nghỉ để lấy hơi khi đọc. – Rèn cường độ giọng đọc – Luyện đọc to bắt đầu từ lớp 1. – Luyện đọc chính âm đã trình bày ở phần đọc đúng. – Luyện đọc diễn cảm + Giáo viên hướng dẫn học sinh trao đổi, thảo luận vì sao đọc như vậy. Có thể đọc phân vai để làm sống lại nhân vật của bài đọc. – Luyện đọc cá nhân. Trong chương trình tập đọc lớp 3, phần lớn các bài tập đọc là các bài văn xuôi hay các câu chuyện. Để giúp học sinh đọc hay được những văn bản này trước hết giáo viên cần tìm hiểu kĩ bài để xác định giọng đọc cho phù hợp. * Đối với các bài văn xuôi – Giáo viên cần xác định để đọc hay được bài đọc đó thì cần chú ý đến những yếu tố cơ bản như nhấn giọng những từ ngữ nào hay đọc với giọng ra sao thì phù hợp với cảm xúc trong bài. – Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc hay thông qua việc dẫn dắt gợi mở để học sinh thể hiện tình cảm, thái độ qua giọng đọc phù hợp với hình ảnh cảm xúc trong bài. – Giáo viên viết đoạn văn ra băng giấy hoặc bảng phụ chuẩn bị sẵn gắn lên bảng để học sinh tìm ra cách đọc. Gọi 1, 2 em đọc tốt đọc diễn cảm. Nếu học sinh chưa đọc được thì giáo viên đọc mẫu cho các em. Ví dụ câu trong bài “Ông ngoại” cần nhấn giọng các từ ngữ được gạch chân nhằm nêu bật được vẻ đẹp của bầu trời sắp vào thu “Trời xanh ngắt trên cao, xanh như dòng sông trong trôi lặng lẽ giữa những ngọn cây hè phố.” Hay trong câu “Trước ngưỡng cửa của trường tiểu học tôi đã may mắn có ông ngoại – Thầy giáo đầu tiên của tôi.” Cần nhấn giọng ở các từ ngữ được gạch chân để thể hiện tình cảm biết ơn của bạn nhỏ đối với ông ngoại – người thầy giáo đầu tiên của bạn. * Đối với câu chuyện xuất hiện những nhân vật Những câu chuyện xuất hiện những nhân vật thì cần đọc sao cho giọng đọc phù hợp với tính cách nhân vật trong câu chuyện là không thể thiếu. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cụ thể trong từng câu xác định được truyện có những nhân vật tiên cần biết đọc phân biệt lời dẫn chuyện với lời của các nhân vật trong đó tìm hiểu tính cách của từng nhân vật ra sao để có giọng đọc thích hợp và thay đổi giọng đọc như thế nào trong từng văn cảnh cho phù hợp với diễn biến của câu đầu biết làm chủ được giọng đọc đối với ngữ điệu, tốc độ, đọc cao giọng hay thấp giọng, âm sắc nhằm diễn tả đúng nội dung bài. Ví dụ Trong câu chuyện “Cậu bé thông minh”, giáo viên cần cho học sinh nêu được và đọc được các giọng đọc khác nhau của hai nhân vật và người dẫn chuyện. Đó là – Giọng người dẫn chuyện Chậm rãi ở đoạn giới thiệu đầu truyện; lo lắng khi cả làng cậu bé nhận được lệnh của nhà vua; vui vẻ thoải mái, khâm phục khi cậu bé lần lượt qua được những lần thử tài của nhà vua. – Giọng cậu bé Bình tĩnh, tự tin. – Giọng nhà vua Nghiêm khắc. * Đối với các câu cảm, câu hỏi Đối với các câu cảm, câu hỏi trong bài giáo viên cần hướng dẫn các em đọc đúng thì mới bộc lộ được cảm xúc của từng nhân vật và của tác giả. – Giáo viên hướng dẫn học sinh cần đọc đúng ngữ điệu khi đọc câu hỏi như nhấn giọng từ để hỏi, cao giọng ở cuối câu. Ví dụ Câu trong bài “Các em nhỏ và cụ già” “Thưa cụ, chúng cháu có thểgiúp gì cụ không ạ?” cần đọc nhấn giọng từ ngữ giúp gì cụ và đọc cao giọng ở cuối câu. – Đối với câu cảm, giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc giọng phù hợp để biểu lộ sắc thái tình cảm trong câu đó. Ví dụ Câu trong bài “Cuộc chạy đua trong rừng” có lời của nhân vật Ngựa Con “Cha yên tâm đi. Móng của con chắc chắn lắm. Con nhất định sẽ thắng mà!”. Cần nhấn giọng khi đọc các từ ngữ yên tâm đi, chắc chắn lắm, nhất định và thể hiện giọng tự tin. Nếu học sinh đọc chưa hay giáo viên có thể đọc mẫu cho học sinh để học sinh nghe giọng đọc tự điều chỉnh. * Đối với văn bản khác Một số văn bản khác trong chương trình như “Báo cáo kết quả tháng thi đua noi gương chú bộ đội”, “Đơn xin vào Đội”, “Chương trình xiếc đặc sắc”,…Các văn bản này thường là cung cấp thông tin, mẫu, nội dung báo cáo hay quảng cáo. Đối với thể loại văn bản này, không những giáo viên hướng dẫn học sinh ngắt nghỉ đúng sau các dấu chấm, dấu phẩy và nghỉ hơi lâu hơn sau mỗi phần mà cần xác định giọng đọc sao cho phù hợp với nội dung thông báo làm rõ thông tin cơ bản giúp người nghe tiếp nhận được những vấn đề quan trọng hay nổi bật trong văn bản. Ví dụ Trong bài “Chương trình xiếc đặc sắc”, Khi đọc đoạn giới thiệu các tiết mục mới Nhiều tiết mục mới ra mắt lần đầu// Xiếc thú vui nhộn,/ di dỏm.// Ảo thuật biến hóa bất ngờ,/ thú vị.// Xiếc nhào lộn khéo léo,/ dẻo dai.// Giọng đọc đoạn này vui nhộn, rõ từng từ ngữ, từng câu, ngắt giọng ngắn, rành ý nhấn giọng các từ ngữ nêu bật sự hấp dẫn của các tiết mục mới. * Luyện đọc về tốc độ đọc Để chữa lỗi thể hiện về tốc độ đọc giáo viên cần hướng dẫn – Khi đọc văn bản có nội dung miêu tả một sự việc dồn dập khẩn trương thì phải đọc nhanh. Nhưng không có nghĩa là các em phải đọc một cách liến thoắng mà đọc với tốc độ nhanh hơn bình thường để người nghe có thể theo dõi được. Ví dụ Bài “Hội đua voi ở Tây Nguyên” giáo viên hướng dẫn học sinh đọc với tốc độ nhanh, khẩn trương “Đến giờ xuất phát, chiêng trống nổi lên thì cả mười con voi lao đầu dáng lầm lì, chậm chạp thường ngày bỗng dưng biến mất. Cả bầy hăng máu phóng như bay. Bụi cuốn mù mịt. ” – Khi đọc một câu chuyện, một bài văn xuôi trữ tình chan chứa cảm xúc cần phải đọc chậm rãi, thong thả. 4. Biện pháp 4 Rèn đọc dựa trên từng đối tượng học sinh * Mục tiêu của biện pháp Trong dạy học nói chung, phân hóa từng đối tượng học sinh là việc làm hết sức cần thiết để có phương pháp và hình thức dạy học hợp lí. Đối với việc rèn đọc cho học sinh cũng vậy, có những em đọc chậm, chưa trôi chảy thì yêu cầu đối với các em lại khác, có những em đọc khá tốt, trôi chảy thì lại yêu cầu ở mức cao hơn. * Cách thực hiện biện pháp Đối với học sinh đọc chậm, phát âm chưa đúng – Giáo viên xếp học sinh ngồi đầu bàn để tiện việc rèn đọc cho học sinh. – Giáo viên cần hướng dẫn các em đọc theo hình thức cá nhân; luyện đọc tiếng khó, từ khó nhiều lần để học sinh đọc đúng. – Giáo viên hướng dẫn rèn luyện đọc nhiều lần để các em làm quen với mặt chữ. – Ngoài việc đọc đúng giáo viên cần xây dựng nếp học, thói quen đọc tiếp sức câu, đoạn. – Giáo viên tổ chức cho học sinh khá, giỏi kèm thêm học sinh đọc chậm chưa phát âm đúng trong giờ Tập đọc hoặc trong khi đọc sách ở Thư viện. – Giáo viên vận dụng phương pháp luyện đọc theo mẫu, yêu cầu học sinh nghe và nhìn; giáo viên đọc mẫu thật chuẩn, học sinh chú ý nghe và nhìn miệng giáo viên để đọc theo. Biện pháp này giáo viên cần giảng, phân tích một cách đơn giản khi học sinh phát âm để phát âm đúng x⁄s; r/d/gi ; ch/tr ; l/n…để học sinh nhận diện nhằm khắc sâu trí nhớ cách đọc đúng. Ví dụ phát âm “ưutiên ” chứ không phải “iu tiên ” – Hướng dẫn học sinh phát âm đúng thanh hỏi, ngã Ví dụ “nỗi buồn” chứ không phải “nổi buồn” Đối với học sinh ngắt nghỉ hơi chưa hợp lí – Giáo viên hướng dẫn cho học sinh đọc ngắt hơi sau dấu phẩy hoặc sau các cụm từ, nghỉ hơi sau dấu chấm. Giọng đọc rõ ràng, phát âm chuẩn. Ví dụ Bài “Nhớ lại buổi đầu đi học” – SGK Tiếng Việt lớp 3 Tập l trang 51. Hướng dẫn học sinh ngắt, nghỉ hơi như sau Hằng năm, / cứ vào cuối thu, / lá ngoài đường rụng nhiều, / lòng tôi lại náo nức/ những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường.// Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy / nảy nở trong lòng tôi / như mấy cánh hoa tươi / mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.// – Với các bài thơ giáo viên lưu ý các con cách ngắt hơi, nghỉ hơi theo nhịp thơ Ví dụ Trong bài thơ “Bận”- SGK Tiếng Việt lớp 3 tập 1 trang 59 Ngoài việc đọc đúng, chính xác, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh cách nhấn giọng và ngắt nhịp giữa các dòng thơ đúng chỗ và thể hiện giọng đọc đúng với nội dung. Trời thu / bận xanh/ Còn con / bận bú / Sông Hồng / bận chảy/ Bận ngủ / bận chơi / Cái xe / bận chạy / Bận/ tập khóc cười / Lịch bận tính ngày.// Bận/ nhìn ánh sáng. // Với bài này đọc với giọng vui, khẩn trương, thể hiện sự bận rộn của mọi vật, mọi người. – Giáo viên sử dụng phương pháp luyện đọc theo mẫu. Giáo viên đọc mẫu, học sinh theo dõi, đọc lại. Đối với học sinh đọc vẹt, chưa hiểu nội dung – Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị bài trước ở nhà, tìm hiệu nội dung của bài theo từng câu hỏi ở sách giáo khoa. – Giáo viên cần rèn cho học sinh kĩ năng đọc thầm. Đây là hình thức đọc hiểu mà đòi hỏi học sinh phải có tính tự giác. Trước khi cho học sinh đọc thầm, giáo viên cần giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh nhằm định hướng rõ việc đọc – hiểu đoạn văn hay khổ thơ nào, đọc để biết, hiểu, nhớ hay suy nghĩ để trao đổi về điều gì,… Đối với học sinh đọc lưu loát, trôi chảy – Bên cạnh việc rèn học sinh đọc chưa tốt, giáo viên không thể quên các em đã đọc được mà cần nâng từ mức độ đọc khá lên đọc tốt. – Ngoài việc đọc đúng, giáo viên cần phải xây dựng cho học sinh có thói quen đọc tiếp sức đoạn và tự giác học tập, phát huy tính tích cực trong học tập. Tạo mọi điều kiện để học sinh được tham gia vào tiết học trả lời câu hỏi, phát biểu về nghĩa của từ, mở rộng từ, tìm từ cùng nghĩa, trái nghĩa, đặt câu,…. Đề xuất cách đọc diễn cảm sau khi hiểu từ, hiểu nghĩa; biết lắng nghe và nhận xét ý kiến của bạn, được rèn đọc đúng và diễn cảm, tham gia các trò chơi, luyện đọc, đọc theo cách phân vai. Ví dụ Bài “Người liên lạc nhỏ”- SGK Tiếng Việt lớp 3 tập l trang 112. Giáo viên hướng dẫn cho học sinh đọc diễn cảm – Thể hiện giọng đọc qua từng đoạn – Hướng dẫn học sinh đọc phân biệt lời người dẫn chuyện, bọn giặc, Kim Đồng, ông Ké, nhằm luyện đọc diễn cảm cho học sinh. – Lời ông Ké thân mật, vui vẻ Nào bác cháu ta lên đường! – Lời Kim Đồng trong đoạn đóng kịch để lừa lũ giặc bình tĩnh, thản nhiên, không hề tỏ ra bối rối, sợ sệt khi trả lời bọn lính Đón thầy mo về cúng cho mẹ ốm; tự nhiên, thân tình khi gặp ông Ké Già ơi! Ta đi thôi! Về nhà cháu còn xa đấy! Đọc câu văn Mắt giặc tráo trưng mà hóa thong manh giọng giễu cợt bọn giặc; đọc câu miêu tả “Những tảng đá ven đường sáng hẳn lên như vui trong nắng sớm”, với giọng vui. – Trong tiết học, giáo viên giữ vai trò tổ chức hướng dẫn học sinh luyện đọc và tìm hiểu bài; giáo viên nghe và sửa chữa cách đọc của từng học sinh nhưng không áp đặt và gò ép. Đối với học sinh đọc hay diễn cảm Giáo viên cần cho học sinh khá giỏi đọc mẫu để phát huy năng lực đọc cho các em. Giáo viên khuyến khích cách đọc sáng tạo của học sinh, tránh áp đặt một cách đọc theo khuôn mẫu. Sau khi tìm hiểu nội dung bài, giáo viên cần mở rộng nội dung bài; đặt câu hỏi mở rộng phù hợp với nội dung bài để học sinh suy nghĩ, phán đoán, tạo cho học sinh có cơ hội phát huy năng lực tìm tòi, sáng tạo trong học tập. Có thể ra thêm về biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong văn bản đọc từ đó giúp các em hình thành và phát triển năng lực đọc trong các lớp học trên. 5. Biện pháp 5 Áp dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực theo hướng phát huy năng lực của học sinh * Mục tiêu của biện pháp Kích thích tư duy sáng tạo và sự cộng tác làm việc của học sinh. Tạo không khí học tập sôi nổi, vui vẻ để học sinh luyện đọc có hiệu quả. * Cách thực hiện biện pháp Tôi đã chọn lựa những kĩ thuật dạy học tích cực sau Kĩ thuật khăn trải bàn Ví dụ Bài “Cuộc chạy đua trong rừng”- SGK Tiếng Việt lớp 3 tập 2 Khi hướng dẫn học sinh luyện đọc các đoạn giáo viên sử dụng kĩ thuật khăn trải viên chia lớp thành các nhóm 4. Các nhóm 4 của Tổ 1 nêu cách đọc của đoạn l, các nhóm 4 của Tổ 2 nêu cách đọc của đoạn 2, các nhóm 4 của Tổ 3 nêu cách đọc của đoạn 3, các nhóm 4 của Tổ 4 nêu cách đọc của đoạn 4. Các nhóm dùng bảng phụ, chia bảng phụ làm 5 phần, các thành viên của từng nhóm ghi nhanh ý kiến của cá nhân mình vào ô của mình trên bảng phụ đó ý tổng hợp được ghi ở giữa bảng. Nhóm trưởng sẽ nêu ý chung của cả nhóm, các nhóm khác bổ sung và giáo viên sẽ chốt lại cách đọc đúng cho từng đoạn. Kĩ thuật tia chớp Sử dụng kĩ thuật tia chớp trong rèn đọc cho học sinh tôi thấy rất hiệu quả thông qua việc các thành viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng nhanh như tia chớp ý kiến của mình. Mặt khác kĩ thuật dạy học này còn cải thiện tình trạng giao tiếp của các em. Ví dụ Bài “ Buổi học thể dục”- SGK Tiếng Việt lớp 3 tập 2 Khi luyện đọc câu “Nen-li rướn người lên và chỉ còn cách xà ngang hai ngón tay. “Hoan hô!Cố tí nữa thôi!”- Mọi người reo lên. Lát sau, Nen-li đã nắm chặt được cái xà.” Bằng kĩ thuật tia chớp giáo viên tung ra câu hỏi Để đọc được tốt các câu văn trên con cần ngắt nghỉ hơi ở đâu và nhấn giọng vào những từ ngữ nào ? Nhanh như tia chớp nhiều học sinh nêu được ý kiến của mình để có thể đưa ra cách đọc đúng như sau “Nen-li rướn người lên/ và chỉ còn cách xà ngang hai ngón tay.// “Hoan hô!/ Cố tí nữa thôi!”/- Mọi người reo lên. Lát sau,/ Nen-li đã nắm chặt được cái xà.//” Phương pháp Bàn tay nặn bột Khi dạy luyện đọc cho học sinh tôi chọn lựa để áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột. Tuy nhiên tôi không áp dụng cả 5 bước của phương pháp này mà tôi chỉ áp dụng một vài bước nhỏ của phương pháp và tôi thấy có hiệu quả rõ rệt. Ví dụ Khi dạy bài “Cuộc chạy đua trong rừng”, sau khi tôi đọc mẫu xong toàn bài tôi đặt câu hỏi nêu vấn đề theo hướng mở cho học sinh “Con thấy câu chuyện cô vừa đọc có hay không? Vậy chúng ta cần đọc thế nào để người nghe thấy được cái hay và ý nghĩa của câu chuyện?” Sau đó tôi cho học sinh bộc lộ quan điểm ban đầu của mình và tôi viết các ý kiến của em lên một góc bảng. Tôi nói với các em rằng chúng ta sẽ cùng nhau tháo gỡ và giải đáp các ý kiến của các em trong toàn bộ tiết học. Kết thúc tiết học tôi nêu kết luận của mình về cách đọc toàn bài và đối chiếu với ý kiến ban đầu của các em. Như vậy tôi đã áp dụng 3 bước của phương pháp bàn tay nặn bột đó là Bước 1 Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề. Bước 2 Bộc lộ quan điểm ban đầu của học sinh. Bước 3 Giáo viên nêu kết luận. Áp dụng phương pháp này tôi thấy học sinh học tập rất hứng thú, các em thấy mình là chủ thể, là nhân vật không thể thiếu của tiết học. Suy nghĩ đó giúp các em sáng tạo và rất chủ động trong tiết học. Tạo hứng thú cho học sinh khi rèn đọc bằng hình thức chơi trò chơi – Mục đích của việc tổ chức chơi trò chơi trong tiết tập đọc là tạo không khí học tập sôi nổi, vui vẻ, nhưng phải rèn đọc có hiệu quả. Ví dụ Bài “Ông tổ nghề thêu” – SGK Tiếng Việt lớp 3 tập 2 Đoạn l, 2 gồm 8 câu, tôi cho học sinh chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 4 học sinh. Sau đó cho các em thi đọc tiếp sức mỗi em 2 em rất hào hứng và đọc bài rất tốt mà tiết học thêm phần sinh động. 6. Biện pháp 6 Kết hợp rèn đọc ở tất cả các môn học * Mục tiêu của biện pháp Việc kết hợp rèn đọc đồng bộ ở tất cả các môn học là việc làm vô cùng cần thiết vì giáo viên không những tạo được sự liên kết trong dạy các môn học mà còn làm tiền đề cho các em làm quen với phương pháp dạy học tích hợp liên môn ở các cấp học tiếp theo. * Cách thực hiện biện pháp Khi dạy môn Tập đọc nói riêng và các môn học khác nói chung, tôi đều chú trọng rèn đọc cho học sinh rèn mọi lúc, mọi nơi, mọi tiết học. Ví dụ- Trong giờ Toán tôi cho các em rèn đọc bằng hình thức đọc đề bài của các bài tập đặc biệt là các bài toán có lời văn. – Trong giờ chính tả tôi cho các em đọc bài chính tả mà các em sẽ viết trong tiết học để rèn đọc cho các em. – Trong giờ Tập làm văn tôi rèn đọc cho các em bằng hình thức yêu cầu các em đọc đề bài hay đọc chính bài viết của mình, IV. KẾT QUẢ THỰC HIỆN Sau một thời gian nghiên cứu và áp dụng đề tài “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 3” ở lớp tôi đang chủ nhiệm, tôi nhận thấy đề tài đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Giáo viên tự tin hơn trong lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy thân tôi không bị lệ thuộc vào sách giáo khoa, tài liệu tham đã mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy biệt là tôi thấy mình hứng thú hơn rất nhiều trong giảng dạy, giảm áp lực với học sinh. Học sinh hứng thú và chủ động hơn trong việc luyện đọc và cảm thấy yêu thích phân môn học sinh đọc chưa đạt yêu cầu đã giảm rất nhiều, số học sinh đọc tốt đã được nâng lên. * Khảo sát sau khi thực hiện đề tài 1. Lỗi phát âm Mô tả tiếng, từ dễ lẫn Số học sinh của lớp Khảo sát trước khi thực hiện đề tài Khảo sát sau khi thực hiện đề tài Học sinh phát âm đúng Học sinh phát âm sai Học sinh phát âm đúng Học sinh phát âm sai Số lượng % Số lượng % Số lượng % Số lượng % Tiếng có phụ âm đầu “l” và “n” 58 38 65,5 20 34,5 57 98,3 1 1,7 Tiếng chứa vần “uyên” 58 45 77,6 13 22,4 57 98,3 1 1,7 Tiếng chứa thanh “hỏi” 58 48 82,7 10 17,3 57 98,3 1 1,7 Tiếng chứa vần “anh” 58 47 81 11 19 58 100 0 0 2. Lỗi đọc và hiểu văn bản Mô tả Số học sinh của lớp Trước khi thực hiện đề tài Sau khi thực hiện đề tài Học sinh mắc lỗi theo mô tả % Học sinh mắc lỗi theo mô tả % Đọc ê a, ngắc ngứ, chưa lưu loát,… 58 25 43,1 2 3,4 Đọc vẹt, không hiểu văn bản 58 25 43,1 2 3,4 Đọc đúng song chưa hay diễn cảm 58 20 34,5 2 3,4 Đọc đúng, đọc hay diễn cảm 58 15 25,9 53 91,4 Như vậy so sánh với bảng khảo sát đầu năm học, tôi thấy số lượng học sinh đọc đúng, đọc hay chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn. Số học sinh đọc sai, đọc ấp úng giảm nhiều. Nhiều học sinh đầu năm đọc ngắt nghỉ hơi tùy tiện thì nay đã đọc đúng, đọc lưu loát, biết ngắt hơi đúng ở sau những dấu câu và những câu dài, biết lên giọng hạ giọng, nhấn giọng một cách hợp lí. Nhờ đọc đúng mà các em nắm tốt nội dung bài học. Bên cạnh đó các em cũng đã thấy thích thú và yêu thích môn Tập đọc hơn. Vì vậy tôi khẳng định “Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 3” là đúng hướng và có hiệu quả. Từ việc nghiên cứu và đạt được hiệu quả trên tôi rút ra những lưu ý đối với giáo viên và học sinh như sau 1. Đối với giáo viên – Khi dạy phân môn Tập đọc người giáo viên cần chú ý coi trọng quan điểm dạy học “phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm”. – Giáo viên cần xây dựng nề nếp học tập cho học sinh ngay từ đầu năm học. – Giáo viên cần chú ý đến công tác chuẩn bị tốt cho các tiết học. 2. Đối với các em học sinh – Yêu cầu học sinh đọc kỹ trước bài ở nhà, có đọc trước bài ở nhà học sinh mới biết được từ nào khó đọc, hay đọc sai để đến lớp nghe giáo viên hướng dẫn sửa chữa. – Học sinh thường xuyên rèn đọc đúng ở bất kỳ một văn bản nào nói chung, hay trong các bài tập đọc nói riêng. C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ I. KẾT LUẬN Rèn đọc cho học sinh không thể nóng vội mà phải hết sức bình tĩnh, nhẹ nhàng, tỉ mỉ, nhưng cũng rất cương quyết để hình thành cho các em có thói quen và niềm say mê đọc cho các em đức tính chịu khó, cẩn thận trong khi luyện tốt việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 3 sẽ góp phần vô cùng quan trọng để phát triển trí tuệ cho các em một cách tổng đó các em sẽ có một nền tảng vững chắc để học các môn học khác và tiếp tục học lên các lớp trên. II. KHUYẾN NGHỊ Để thực hiện được đề tài này hiệu quả, bản thân tôi tự nhận thấy có một số vấn đề cần thiết và không thể thiếu được trong quá trình giảng dạy nói chung và việc rèn kĩ năng đọc ở lớp 3 nói riêng đó là 1. Với phòng Giáo dục Quận – Bản thân tôi rất mong Phòng Giáo dục tổ chức nhiều hơn nữa các chuyên đề giảng dạy Tiếng Việt để giáo viên được giao lưu và học hỏi. – Phòng Giáo dục hằng năm có thể tổ chức các sân chơi như thi đọc thơ, văn diễn cảm để các em học sinh trong quận có dịp cọ sát, học hỏi lẫn nhau. 2. Với Giáo viên Để làm tốt việc rèn đọc cho học sinh lớp 3 trong phân môn Tập đọc, theo tôi người giáo viên phải làm tốt những việc sau – Cả thầy và trò phải rèn tính kiên trì, bình tĩnh, chịu khó trong giảng dạy cũng như trong học tập. Giáo viên luôn theo dõi từng bước đi của các em. – Giáo viên phải thường xuyên học tập, nâng cao nghiệp vụ, trình độ chuyên môn, năng lực sáng tạo, nắm chắc khả năng nhận thức của từng đối tượng học sinh để có phương pháp và hình thức giảng dạy cho phù hợp. Kết hợp triệt để và hiệu quả các đối tượng giáo dục học sinh với học sinh, nhà trường và gia đình. – Giáo viên nên tổ chức nhiều hình thức học tập khác nhau. – Thường xuyên dự giờ học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp. Lời dạy đó là “kim chỉ nam” cho mục tiêu giáo dục của Đảng. Chính vì thế mà Đảng luôn coi “giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân”, đặc biệt là đối với Tiểu học vì đây là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện sau này của các em. Cùng với môn Toán, môn Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động này thể hiện trong 4 hoạt động tương ứng với bốn kĩ năng nghe, nói, đọc và viết. Mà muốn hình thành cho học – Tập đọc là môn khởi đầu, đồng thời cũng là công cụ học tập không chỉ trong nhà trường mà còn trong cuộc sống nói chung. Trước hết, môn Tập đọc giúp cho học sinh rèn kĩ năng đọc đúng, ngắt giọng, nhấn giọng, đọc diễn cảm một bài văn, khổ thơ làm tiền đề cho việc tìm hiểu bài. Các quá trình đó có liên quan mật thiết với nhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau. Qua việc đọc, học sinh chiếm lĩnh được tri thức văn hóa của dân tộc, tiếp thu nền văn minh của loài người thông qua sách vở, biết đánh giá cuộc sống xã hội, tư duy. Qua hoạt động học, tình cảm thẩm mĩ của các em được nâng cao nên tầm hiểu biết để nhìn ra thế giới xung quanh và quá trình nhận thức của các em có chiều sâu hơn. Đọc đúng, đọc hay cũng là kĩ năng của ngôn ngữ văn học. Qua đó có tác dụng giáo dục tình cảm, đạo đức cao đẹp cho người học sinh. Đồng thời phát huy óc sáng tạo và khả năng tư duy như quá trình phân tích tổng hợp cho các em. Mặt khác, phân môn Tập đọc có nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc cho học sinh. Đọc là một hoạt động của lời nói, là quá trình chuyển dạng chữ viết sang lời nói âm thanh, là quá trình chuyển tiếp hình thức chữ viết thành đơn vị nghĩa không có âm hai hình thức trên đều không thể tách rời nhau. Chính vì vậy, dạy đọc có một ý nghĩa rất to lớn ở Tiểu học. Nó đã trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với người đi học. Đọc là một khả năng không thể thiếu đựơc của con người trong thời đại văn phát từ quan điểm chung là dạy Tập đọc kết hợp dạy ngữ và rèn đọc tiếng mẹ đẻ, thực tế hiện nay ngành giáo dục nói chung và bậc tiểu học nói riêng, đã và đang tiến hành đổi mới phương pháp dạy học đối với tất cả các môn học trong đó có môn Tập đọc. Hiện nay ở nhà trường Tiểu học, việc rèn luyện kỹ năng đọc đạt kết quả chưa cao. Có thể có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân lớn nhất có lẽ là cách thức về phương pháp rèn đọc chưa được coi trọng. Thực tế nếu không có kỹ năng đọc thì học sinh không có điều kiện để học các môn khác, không thể tiếp thu nền văn minh của loài người. Vì vậy việc dạy đọc cho học sinh có ý nghĩa to lớn. Thông qua dạy đọc, giáo viên giúp cho học sinh đọc đúng, đọc hay và bồi dưỡng cho các em cái hay cái đẹp trong cuộc sống. Giáo viên phải đặc biệt coi trọng và chú ý đến việc dạy văn kết hợp với việc dạy ngữ cho học sinh tiếng mẹ đẻ một cách toàn diện. Dạy đọc đúng với dạy đọc hay, dạy đọc ngôn ngữ với dạy văn học. Đó chính là cơ sở dạy học cho học sinh trưởng thành và phát triển cả về trí tuệ và tâm hồn, nhân cách và tri học sinh lớp …. các em bước đầu biết đọc thì giáo viên cần hướng dẫn, đọc đúng, đọc nhanh, đọc lưu loát trôi chương trình thay sách Tiếng Việt Tiểu học, tôi đã và đang từng bước thực hiện nhiệm vụ dạy tốt môn Tiếng Việt trong đó có có phân môn Tập đọc. Từ đó người giáo viên thấy rõ và xác định được việc dạy học tập đọc cho học sinh Tiểu học nói chung học sinh lớp 2 nói riêng là một việc làm hết sức cần thiết. Chúng ta phải làm thế nào để thông qua môn tập đọc giúp học sinh không những đạt được năng lực đọc mà phải hiểu nội dung của văn bản và các thể loại từ văn xuôi đến thơ ca. Hiểu được ý đồ của tác giả và bút pháp nghệ thuật mà mỗi tác giả đã thể hiện trong tác phẩm. Giáo viên phải tìm phương pháp tiếp cận làm cho học sinh có cảm tình với bài đó, thúc đẩy học sinh biểu lộ tình cảm, thái độ tự nhiên thông qua giọng thực tế hiện nay, để thực hiện được vấn đề này, người giáo viên phải thay đổi cách dạy để các em có thể nắm bắt được tri thức – thực hiện việc dạy theo hướng đổi khác việc dạy đọc đúng cho học sinh đã có từ lâu và cũng có nhiều tài liệu đề cập đến. Tất cả đều khẳng định vai trò quan trọng của việc dạy đọc đúng – đọc hiểu cho học sinh. Vì vậy trong quá trình dạy phân môn này giáo viên cần quan tâm đến tất cả các yếu tố cấu thành chất lượng phân môn tập đọc và đặc biệt là việc dạy đọc đúng cho học sinh phải được coi trọng. Thông qua việc dạy đọc đúng giúp các em hiểu được văn bản, tiếp thu và chiếm lĩnh kiến dù lâu nay các thầy cô giáo đã và đang thực hiện việc rèn đọc đúng cho học sinh, nhất là đối với học sinh Tiểu học nhưng điều đó vẫn còn bị hạn thân tôi là một giáo viên Tiểu học đã trực tiếp dạy lớp 2 tôi thấy được quá trình dạy đọc đúng cho học sinh Tiểu học là rất quan trọng. Đối với học sinh lớp 4-5 việc đọc diễn cảm và đọc đúng đã là vấn đề khó thì đối với học sinh lớp 2 nói riêng lại càng khó hơn nhiều. Bởi vì các em đều là học sinh mới làm quen với bài văn, bài thơ ở tháng 2 của học kỳ II. Nhưng nếu được quan tâm rèn luyện đọc thì các em sẽ đọc tốt. Cũng có một em khi còn học lớp 1 đọc đã yếu lại không được sự quan tâm giáo dục của bố mẹ nên khi chuyển lên lớp …. các em đọc vẫn còn tế khảo sát chất lượng phân môn tập đọc đầu năm của học sinh cho ta thấy học sinh phát âm còn ngọng, hay sai phụ âm đầu vần và dấu thanh. Học sinh thường phát âm sai phụ âm l, n, ch, tr và các thanh hỏi – ngã. Học sinh đọc bài chưa biết ngắt nghỉ dấu chấm, dấu phẩy trong một bài văn, bài viên dựa trên hướng dẫn của sách giáo khoa để tổ chức lớp bằng phương thức giáo viên hỏi- học sinh trả lời. Chính vì vậy mà đã bộc lộ nhiều nhược điểm trong việc quản lí lớp cũng như khả năng kích thích hứng thú học tập của học sinh tham gia tìm hiểu xây dựng bài. Đặc biệt là việc rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh còn hạn chế, và sau một giờ, một bài học sinh ít có khả năng đọc hay, diễn cảm và hiểu nội dung bài một cách đầy đủ. Học sinh không quan tâm tới phương pháp đọc của mình. Do đó, các em rất yếu về năng lực vì vậy, là một giáo viên trực tiếp giảng dạy tôi rất băn khoăn những vấn đề tồn tại trên. Vậy tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp ….. qua môn Tập đọc” với mong muốn nâng cao trình độ nghiệp vụ nhằm giúp học sinh biết đọc đúng, hay, có khả năng kể chuyện, giao tiếp tốt, viết đúng chính tả, viết được những bài văn có đủ ý, trọn câu và ngày càng hứng thú đọc viết đề tài này tôi đã phát huy tất cả những kiến thức được học, được bồi dưỡng qua các lớp học chuyên môn và học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp. Đặc biệt là kinh nghiệm thực tế qua các giờ dạy mà đối tượng chính là học sinh của mình. Do đó, tôi muốn đưa ra những phương pháp đặc trưng ở góc độ chủ quan mà tôi đã tiếp thu được trong các kì bồi dưỡng Mục đích– Tìm ra biện pháp đọc đúng, đọc hay, tốt nhất để giúp học sinh học tốt phân môn Tập đọc lớp ….– Giúp học sinh yêu thích phân môn Tập đọc, phát huy khả năng học Tiếng Việt để từ đó tiếp thu tốt các môn học khác.– Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục môn Tiếng Việt nói riêng và chất lượng giáo dục trong nhà trường nói Đối tượng– Học sinh lớp ….. Trường3. Thời gian– Từ tháng ….. năm ….. – tháng …. năm ……..4. Phương pháp nghiên cứu– Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, phỏng vấn và trao đổi trực tiếp với học sinh, giáo viên, dùng phiếu thăm dò.– Phương pháp trao đổi và toạ đàm với đồng nghiệp.– Tìm kiếm sự hỗ trợ, tư vấn của các nhà nghiên cứu về Tiếng Việt, viết sách Tiếng Việt Tiểu học.– Phương pháp nghiên cứu tài liệu có liên quan đến đề tài, tìm hiểu sách giáo khoa Tiếng Việt 2, sách giáo viên.– Dạy thực nghiệm.– Kiểm tra đánh giá sau thực nghiệm.– Tổng kết, đánh NỘI DUNG ĐỀ TÀII. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP ….Hiện nay với sự phát triển ngày càng càng cao, đặc biệt là sự đổi mới đáng đề cập đến đó là vấn đề đổi mới về chương trình và sách giáo khoa Tiểu học thì vấn đề giáo dục phải ngày càng được phát triển, đổi mới không ngừng. Do vậy, đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng học hỏi để theo kịp sự phát triển và đổi mới của xã hội. Phần nhiều giáo viên là những người ham học hỏi, tích cực tìm ra phương pháp dạy học mới để đạt được kết quả cao nhất. Song do điều kiện, do còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ nên chưa tiếp cận được hết những phương pháp dạy học mới. Một số giáo viên còn trung thành và có thói quen dạy theo phương pháp cũ. Khi tiếp cận với phương pháp dạy học mới giáo viên thường quan niệm trong các tiết dạy phải có hệ thống câu hỏi và buộc học sinh trả lời các câu hỏi ấy. Như vậy yêu cầu học sinh dùng một phương pháp thực hành nhiều cho nhớ và giáo viên khi dạy ít quan tâm đến đặc điểm tâm lí của các em học sinh Tiểu học đó là “Học mà chơi, chơi mà học”, các em khi học rất dễ nhớ nhưng cũng rất nhanh Thực trạng dạy học Tập đọc của các trường Tiểu họcQua quan sát và học hỏi thực tế tôi thấy rằng giáo viên chưa hiểu khái niệm “Đọc” một cách đầy đủ, khi dạy chưa bám sát vào mục đích, yêu cầu của từng bài. Do vậy họ chưa đạt được mục tiêu của một giờ Tập đọc. Có những giáo viên cho rằng dạy Tập đọc là chủ yếu dạy cho các em đọc to, rõ ràng là được. Phương pháp dạy Tập đọc của giáo viên có dạy theo đoạn, có các kiểu câu hỏi khác nhau song hình thức luyện đọc chỉ đơn thuần là đọc. Việc sử dụng đồ dùng còn hạn chế, giáo viên còn dạy “chay” chưa coi những phương tiện trực quan là cần thiết trong việc luyện đọc. Vì thế việc đọc đúng, đọc hay của học sinh còn hạn khảo sát, điều tra và thực tế dạy trên lớp tôi thấy kĩ năng đọc đúng, hay của học sinh còn yếu. Học sinh học bài một cách thụ động, các em học một cách bắt buộc, chỉ có những học sinh khá, giỏi mới cố gắng đọc cho hay song vẫn chưa đạt yêu cầu. Khi đọc một số văn bản các em không ngắt nghỉ hơi đúng chỗ nên các em không nắm được điều gì là cốt yếu trong văn bản. điều này sẽ gây khó khăn trong việc hình thành kĩ năng giao các bạn tham khảo thêm các thông tin hữu ích khác trên chuyên mục Tài liệu của
Trường PTCS Đại Dực CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do hạnh phúc Đại Dực, ngày 24 tháng 10 năm 2012 BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ CẤP TRƯỜNG Người thực hiện Vi Thị Sâm Lớp dạy 3AA/ Đặt vấn đề Trong những năm đây toàn ngành giáo dục triển khai đồng loạt dạy học lấy học sinhlàm trung tâm, đồng thời triển khai việc dạy và học sử dụng ngôn ngữ thứ hai cho một sốvùng miềm nói riêng Như Tiếng anh với học sinh người việt, Tiếng việt với học sinh dântộc thiểu số. qua 2 năm áp dụng nội dung dạy học dựa trên ngôn ngữ thứ hai chúng tôi nhìn nhận thấy có những thuận lợi khó khăn trong dạy học phân môn tập đọc như sau 1/ Thuận lợi - Học sinh Tự tin mạnh dạn tham gia các hoạt động học nghĩa từ khó qua thao tác trực quan hành động, đặc biệt các đồ dùng làm bằng nguyên vật liệu sẵn có , gầngũi với các em, gây được sự hứng thú và trí tò mò cho các em. - Giáo viên Thân thiện với học sinh hơn, hiểu được một số câu từ đơn giản về tiếng nóicủa các em qua các bước giải nghĩa từ Có sử dựng 2 ngôn ngữ TV, TDT2/ Khó khăn; - Học sinh Tiếp thu bài còn chậm, khó khăn về cách phát âm về dấu thanh, từ khó,cách ngắt nhịp trong các cụm từ ở câu văn dài khó xác định trong thời gian ngắn. Trong bước áp dụng sử dụng từ để đặt câu còn hạn chế. - Giáo viên Phải làm nhiều đồ dùng phục vụ trong các tiết dạy học nói chung và dạy phân môn tập đọc cho lớp 1,2,3 nói riêng. - Trong giờ học đôi khi kéo dài thời lượng / tiết học so với qui Nọi dung của chuyên đề1/ Chuẩn bị bài dạy. Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học dựa trên ngôn ngữ thứ hai, bản thân tôi thường xuyên đầu tư thời gian nghiên cứu, tìm ra phương pháp soạn giảng cho phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tế của lớp - Sắp xếp chõ ngối hợp lý, ngồi xen kẽ để cho các em hợp tác gíup đỡ lẫn nhau trong các giờ học. - Lựa chọn phương pháp truyền thụ kiến thức bài học cho các em dẽ hiểu, dễ nhớ. - Giao việc phù hợp với khả năng học sinh, đảm bảo chuẩn kiến thức và kỹ năng. - Tổ chức chia nhóm trong bước luyện đọc 3 nhóm2/ Kiểm tra đánh giá học sinh thông qua 2 bước* Bước 1 Sau khi tổ chức luyện đọc trong nhóm yêu cầu đại diện 2 nhóm thi đọc trước lớp. GV cho học sinh tự đánh giá nhận xét, GV giám sát kết luộn bổ sung.* Bước 2Kết thúc tiết học, căn cứ vào mục tiêu của bài học Giáo án TẬP ĐOCTiết 16 Tiếng ruNhững kiến thức HS đã biết có liên quanđến bài họcNhững kiến thức mới cần hình thànhcho HS- HS đã biết đọc trơn, biết ngắt nghỉ hơi đúng điều bài thơ muốn nói với em Conngười sống giữa cộng đồng phải biết yêu thương anh em, bạn bè, đồng Mục đích yêu cầu1. Kiến thức- Đọc đúng, rành mạch, bước đầu biết đọc bài thơ với giọng tình cảm, ngắt nhịp hợp Hiểu ý nghĩa Con người sống giữa cộng đồng phải yêu thương anh em, bạn bè, đồng chí, Trả lời được các câu hỏi trong SGK thuộc hai khổ thơ trong bài thơ2. Kỹ năng - Biết đọc đúng các kiểu câu3. Thái độ - Giáo dục HS biết quan tâm, đoàn kết với bạn bè4. TCTV Đồng chí, nhân gian, bồiII. Chuẩn bị1. Đồ dùng dạy học- GV Tranh, thẻ từ, bảng phụ- HS SGK2. Phương pháp dạy học Quan sát, giảng giải, nhóm, hỏi đáp,trình bày ý kiến cá Hoạt động dạy họcHoạt động của thầy Hoạt động của trò* Khởi động Ôn lại bài cũ- GV gọi 2 em đọc bài và trả lời câu hỏi của bài " Các em nhỏ và cụ già" Các bạn nhỏ làm gì?- Các bạn nhỏ gặp ai trên đường về?* Giới thiệu bài Trực tiếp- GV ghi đầu bài* Các hoạy động dạy họcHoạt động 1 Luyện đọca. Giáo viên đọc mẫu bài thơ giọng thiết tha, tình cảmb. Hướng dẫn HS luyện đọc, giải nghĩa từ- Đọc từng câu thơ chú ý phát âm đúng các từ ngữ khó đốm lửa, thân lúa, mùa vàng, nhân Đọc câu lần 2- GV đưa khổ thơ cần luyện đọcCon ong làm mật yêu hoa Phải yêu đồng chí, yêu người anh em.* Đọc đoạn lần 1- 2 HS lên bảng, mỗi êm đọc 1 đoạn và trả lời câu HS đọc nối tiếp 1 câu 2 dòng thơHS nối tiếp đọc- Đọc khổ thơ 1 + giải nghĩa từ " đồng chí", yêu đọc khổ thơ 2 + giải nghĩa từ " nhân gian"- Đọc khổ thơ 3 + Giải nghĩa từ " bồi"* Đọc đoạn lần 2* Đọc nhóm- Gv chia lớp 3 nhóm- Thi đọc giữa các nhóm- Lớp và gv nhận xét bình chon nhóm đọctốt.* Đọc đồng động 2 Tìm hiểu bài- GV yêu cầu HS đọc thầm khổ thơ 1- Con ong, con cá, con chim yêu những gì?- Em hãy nói lại nội dung câu cuối khổ thơ 1 bằng lời của mình?- GV gọi 1 HS đọc 2 khổ thơ- Hãy nêu cách hiểu của em trong mỗi Em hiểu câu thơ " Một thân lúa chín vảng" như thế nào?- Em hiểu câu thơ " Một người mà thôi" như thế nào- Vì sao núi không nên chê đất thấp biển không nên chê sông nhỏ?- Câu lục bát nào trong khổ thơ 1 nói lên ý chính của cả chốt Con người sống trong cộng đồng phải biết yêu thương đùm bọc đồng chí anh em của động 3 Học thuộc lòng bài thơ- GV đọc diễn cảm bài Lớp đọc đồng thanh toàn bài GV xóa dần bài Gv y/c HS đọc thuộc lòng tại lớpTrò chơi Ai đọc hayGV nhận vét tuyên dươngHoạt động nối tiếp ? Bài thơ muốn nói với em điều gì?Gv nhận xét tiết học- HS nối tiếp nhau đọc 3 khổ HS nối tiếp đọc. - HS nối tiếp mỗi bạn đọc 1 khổ thơ trong nhóm - 2 nhóm lên bẳng Cả lớp đọc đồng thanh bài HS đọc thầm trả lời câu hỏi- HS trả lời- 1 HS đọc-HS trả lời- HS trả lời- Lớp đọc thầm bài đọc đồng thanh, 2 hS đọc cá 2HS trả lời Người viết báo cáo
PHÒNG GD- ĐT NÚI THÀNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMTRƯỜNG TH ĐINH BỘ LĨNH ĐỘC LẬP- TỰ DO- HẠNH PHÚC * * * * * * *CHUYÊN ĐỀ LUYỆN TỪ VÀ CÂULỚP 2GV NGÔ THỊ HỒNG THU* GIỚI THIỆU VỀ MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 2A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU1. Mở rộng vốn từ và cung cấp cho HS một số hiểu biết sơ giản về từ loại từ chỉ người, con vật, đồ vật, cây cối; từ chỉ hoạt động, trạng thái; từ chỉ đặc điểm, tính chất.2. Rèn luyện cho HS các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu. Cụ thể- Đặt câu+ Các kiểu câu Ai là gì?, Ai làm gì?, Ai thế nào? Và những bộ phận chính của các kiểu câu ấy.+ Những bộ phận câu trả lời cho các câu hỏi Khi nào?, Ở đâu?, Như thế nào?, Vì sao?, Để làm gì?- Dấu câu dấu chấm, dâu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu Bồi dưỡng cho HS thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu và thích học tiếng ViệtB - NỘI DUNG DẠY HỌC1. Số bài, thời lượng họcTrong cả năm học, HS được học 31 tiết Luyện từ và câu2. Nội dungVề từ vựng, bên cạnh vốn từ được cung cấp qua các bài tập đọc, ở phân môn Luyện từ và câu, HS được mở rộng vốn từ theo chủ điểm thông qua các bài tập thực từ loại, theo Chương trình Tiểu học mới, HS bước đầu rèn luyện cách dùng các từ chỉ sự vật danh tư, hoạt động, trạng thái động tư và đặc điểm, tính chất tính tư.Về câu, HS lần lượt làm quen với các kiểu câu trần thuật đơn cơ bản Ai là gì?, Ai làm gì?, Ai thế nào?, các bộ phận của câu trả lời các câu hỏi Ai?, Là gì?, Làm gì?, Khi nào?, Ở đâu?, Như thế nào?, Vì sao?, Để làm gì? và các dấu câu chấm, chấm hỏi, chấm than, phẩy.Tuy nhiên, ở lớp 2 không có bài học lí thuyết. Các kiến thức từ ngữ và ngữ pháp nói trên được thể hiện qua các bài tập thực Hình thức rèn luyệnSGK có nhiều hình thức bài tập để mở rộng vốn từ và rèn kĩ năng đặt câu cho HS, VD điền từ vào chỗ trống, xếp loại các từ, xếp ô chữ, chơi trò chơi về từ, đặt câu theo mẫu, nối từ thành câu, …C - BIỆN PHÁP DẠY HỌC CHỦ YẾU1. Hướng dẫn HS làm bài tập- GV giúp HS nắm vững yêu cầu của bài tập bằng câu hỏi, bằng lời giải thích.- GV giúp HS chữa một phần của bài tập làm mẫu một HS chữa mẫu trên bảng lớp hoặc cả lớp làm bài vào vở hay bảng con.- HS làm bài vào bảng con hoặc vào vở. GV uốn GV tổ chức cho HS trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những điểm ghi nhớ về tri Cung cấp cho HS một số tri thức sơ giản về từ, câu và dấu Mức độ tri thức cung cấp cho HS lớp 2- Về vốn từ Ngoài những từ được dạy qua các bài tập đọc, những thành ngữ được cung cấp qua các bài tập viết, HS được học một cách tương đối có hệ thống các từ ngữ theo chủ điểm, ví dụ+ Đơn vị thời gian ngày, tháng, năm, năm học …;+ Đơn vị hành chính xã, phường, huyện quận;+ Đồ dùng học tập;+ Đồ dùng trong nhà;+ Việc nhà;+ Họ hàng;+ Vật cung cấp tri thức- Về từ loại nhận ra và biết dùng các từ chỉ người, con vật, dồ vật, hoạt động, trạng thái, đặc điểm để đặt câu; bước đầu có ý niệm và biết viết hoa tên Về kiểu câu nhận ra và biết đặt các kiểu câu đơn Ai là gì?, Ai làm gì?, Ai thế nào?- Về dấu câu có ý thức và bước đầu biết đặt câu dấu chấm, chấm hỏi, chấm than, phẩy vào đúng tri thức nói trên được cung cấp qua các bài tập. GV chỉ cần nêu những tổng kết ngắn như trong SGK, tránh giải thích dài dòng hoặc sa vào lí - QUY TRÌNH GIẢNG DẠY1. Kiểm tra bài cũ Yêu cầu HS giải các bài tập ở nhà hoặc nêu ngắn gọn những điều đã học ở tiết trước, cho ví dụ minh Dạy bài mới thiệu bài Dựa theo gợi ý trong dẫn làm bài tổ chức cho HS thực hiện từng bài tập trong SGK theo trình tự chung- Đọc và xác định yêu cầu của bài HS giải một phần bài tập làm HS làm bài tập theo hướng dẫn của chức trao đổi, nhận xét về kết quả. Rút ra những điểm ghi nhớ về kiến cố, dặn dò Chốt lại những kiến thức và kĩ năng cần năm vững ở bài luyện tập; nêu yêu cầu thực hành luyện tập ở nhà.* * * * * * * * * * * * * * * * * *
báo cáo lý thuyết chuyên đề tập đọc lớp 2